Ngày 10/6/2020, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giám định tư pháp. Luật này sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/1/2021. Luật này sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật năm 2012 về phạm vi giám định tư pháp; nguyên tắc thực hiện giám định; hồ sơ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp gắn với cấp, thu hồi thẻ giám định viên tư pháp; quyền và nghĩa vụ của giám định viên tư pháp, người giám định tư pháp theo vụ việc; tổ chức giám định tư pháp công lập; điều kiện thành lập Văn phòng giám định tư pháp; công nhận và đăng tải danh sách người, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc; quyền và nghĩa vụ của người trưng cầu giám định; quyền và nghĩa vụ của người giám định tư pháp khi thực hiện giám định; quyền và nghĩa vụ của tổ chức được trưng cầu, yêu cầu giám định; trưng cầu giám định; thời hạn giám định; văn bản ghi nhận quá trình thực hiện giám định; kết luận giám định; hồ sơ giám định; chi phí giám định; nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý (Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) đối với công tác giám định tư pháp; trách nhiệm của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với công tác giám định tư pháp; hiệu lực thi hành.
Thực hiện Quyết định số 1767/QĐ-BTP ngày 27/10/2017 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Trợ giúp pháp lý của Bộ Tư pháp, ngày 28/8/2018, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 12/2018/TT-BTP về một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý (sau đây gọi là Thông tư). Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 12/10/2018 và thay thế Thông tư số 05/2008/TT-BTP ngày 23 tháng 9 năm 2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn về nghiệp vụ và quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý; Thông tư số 02/2013/TT-BTP ngày 05/01/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Bộ Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý; bãi bỏ Điều 1 Thông tư số 19/2011/TT-BTP ngày 31/10/2011 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung một số quy định về thủ tục hành chính của Thông tư số 05/2008/TT-BTP ngày 23/9/2008, Thông tư số 03/2008/TT-BTP ngày 25/8/2008 và Thông tư số 01/2010/TT-BTP ngày 09/02/2010 của Bộ Tư pháp. Sau đây bài viết xin giới thiệu sự cần thiết ban hành và các nội dung của Thông tư như sau:
Để triển khai thi hành Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018), Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 08/2017/TT-BTP ngày 15/11/2017 quy định chi tiết một số điều của luật trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động trợ giúp pháp lý (sau đây gọi tắt là Thông tư số 08/2017/TT-BTP). Thông tư số 08/2017/TT-BTP gồm 36 điều quy định chi tiết 03 vấn đề được luật giao: (i) Về hợp đồng thực hiện TGPL (Khoản 6 Điều 14); (ii) Trình tự, thủ tục đăng ký tham gia thực hiện TGPL (khoản 3 Điều 15 Luật Trợ giúp pháp lý); (iii) Việc tập sự, kiểm tra kết quả tập sự TGPL và mẫu Giấy chứng nhận kiểm tra kết quả tập sự TGPL (khoản 4, Điều 20). Ngoài ra, nhằm bảo đảm Luật TGPL năm 2017 có thể triển khai thi hành từ ngày 01/01/2018, Thông tư số 08/2017/TT-BTP còn hướng dẫn 02 nội dung: (1) Giấy tờ chứng minh người thuộc diện TGPL và (2) Mẫu giấy tờ dùng trong hoạt động nghiệp vụ TGPL.
Ngày 15/12/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 144/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý. Nghị định gồm 22 Điều, quy định chi tiết 05 nội dung được giao trong Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017: (1) về điều kiện khó khăn về tài chính của người được trợ giúp pháp lý; (2) tổ chức và hoạt động của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước (sau đây gọi là Trung tâm) và Chi nhánh của Trung tâm; (3) chế độ, chính sách đối với Trợ giúp viên pháp lý và thù lao, bồi dưỡng, chi phí thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý cho người thực hiện trợ giúp pháp lý; (4) thủ tục thanh toán vụ việc trợ giúp pháp lý; (5) thủ tục cấp, thu hồi và cấp lại thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý.