Trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ vùng nông thôn

22/07/2025
Xem cỡ chữ Đọc bài viết In trang Google

Trong suốt nhiều thập kỷ qua, sự bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ ở vùng nông thôn, đã trở thành một vấn đề quan trọng trong xã hội Việt Nam. Dù đã có nhiều cải cách về chính sách, nhưng phụ nữ ở vùng nông thôn vẫn phải đối mặt với vô vàn thử thách trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Những khó khăn này bắt nguồn từ nhiều yếu tố, trong đó có trình độ nhận thức pháp lý và khả năng kinh tế gặp nhiều hạn chế, sự phân biệt giới tính trong các cơ hội giáo dục và công việc, cũng như sự thiếu thốn trong việc tiếp cận các dịch vụ pháp lý. Mặc dù có sự can thiệp của Nhà nước và các tổ chức xã hội, nhưng nhiều phụ nữ vùng nông thôn vẫn gặp phải khó khăn trong việc thực hiện quyền lợi hợp pháp của mình, đặc biệt là trong các lĩnh vực như tài sản, bạo lực gia đình, quyền nuôi con sau ly hôn, và quyền sở hữu đất đai.

Tình trạng này đặt ra yêu cầu về sự cải thiện và phát triển các dịch vụ trợ giúp pháp lý không mang tính lợi nhuận để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, đồng thời nâng cao nhận thức pháp lý của họ. Trợ giúp pháp lý là một chính sách pháp luật mang tính nhân văn sâu sắc nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý bình đẳng cho mọi công dân, đặc biệt là nhóm yếu thế và người có công. Theo quy định tại Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, người được trợ giúp pháp lý miễn phí không phải trả bất kỳ khoản chi phí nào cho dịch vụ pháp lý mà mình được thụ hưởng. Không chỉ đơn thuần là một dịch vụ, trợ giúp pháp lý còn là một công cụ quan trọng để giúp phụ nữ vùng nông thôn có thể bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của mình trước những bất công và phân biệt trong xã hội.
Tuy nhiên, do thiếu hiểu biết pháp luật và thông tin tiếp cận còn hạn chế, nhiều phụ nữ vùng nông thôn còn chưa biết đến quyền được trợ giúp pháp lý, hoặc không biết tìm đến đâu khi quyền lợi bị xâm phạm. Vì vậy, việc xây dựng tài liệu “Trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ vùng nông thôn” là cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.
Mục đích của tài liệu này là phân tích, nghiên cứu về trợ giúp pháp lý cho phụ nữ vùng nông thôn, nhằm làm rõ các vấn đề pháp lý mà họ phải đối mặt và đưa ra một số các tình huống trợ giúp pháp lý cho phụ nữ vùng nông thôn điển hình để áp dụng trên thực tế đặc biệt là khi họ gặp phải các vấn đề pháp lý liên quan đến bạo lực gia đình, tranh chấp sở hữu tài sản, quyền nuôi con sau ly hôn và quyền lợi trong các giao dịch đất đai. Tài liệu cũng sẽ chỉ ra tầm quan trọng của trợ giúp pháp lý trong việc bảo vệ quyền lợi và sự phát triển bền vững của phụ nữ.
Bảo vệ quyền lợi hợp pháp của phụ nữ không chỉ là bảo vệ quyền con người mà còn là góp phần vào sự phát triển chung của xã hội. Khi phụ nữ được bảo vệ đúng mực, họ không chỉ có thể cải thiện cuộc sống cá nhân mà còn đóng góp tích cực vào sự phát triển của gia đình và cộng đồng. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện nay, khi xã hội đang ngày càng nhận thức rõ hơn về sự bình đẳng giới và quyền lợi của phụ nữ.

NỘI DUNG

I. NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO PHỤ NỮ VÙNG NÔNG THÔN

1. Quy định pháp luật hiện hành về trợ giúp pháp lý.

1.1. Trợ giúp pháp lý là gì?

Trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc giúp người dân, đặc biệt là phụ nữ ở các vùng sâu, vùng xa, tiếp cận công lý, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình và nâng cao nhận thức pháp lý. Đối với phụ nữ ở vùng nông thôn, trợ giúp pháp lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi họ phải đối mặt với nhiều vấn đề như bạo lực gia đình, phân biệt giới tính trong việc sở hữu tài sản, và bị coi nhẹ trong các giao dịch đất đai.
Theo Điều 2 Luật Trợ giúp pháp lý, trợ giúp pháp lý là việc Nhà nước cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này, qua đó góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật.
Theo Điều 7 Luật trợ giúp pháp lý năm 2017, hiện nay có 14 đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý, đó là:
1. Người có công với cách mạng.
2. Người thuộc hộ nghèo.
3. Trẻ em.
4. Người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
5. Người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.
6. Người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo.
7. Người thuộc một trong các trường hợp sau đây có khó khăn về tài chính (người thuộc hộ cận nghèo hoặc là người đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo quy định của pháp luật):
- Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ;
- Người nhiễm chất độc da cam;
- Người cao tuổi;
- Người khuyết tật;
- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ án hình sự;
- Nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình;
- Nạn nhân của hành vi mua bán người theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người;
- Người nhiễm HIV.

1.2. Quyền và nghĩa vụ của phụ nữ vùng nông thôn khi được trợ giúp pháp lý

a) Quyền của phụ nữ vùng nông thôn khi được trợ giúp pháp lý
Khi được trợ giúp pháp lý, phụ nữ vùng nông thôn có các quyền sau:
1. Được trợ giúp pháp lý mà không phải trả tiền, lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác.
Khi đủ điều kiện là người được trợ giúp pháp lý thì phụ nữ vùng nông thôn có quyền yêu cầu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý trợ giúp cho mình theo tất cả các hình thức: từ tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình mà không phải trả bất kỳ khoản tiền hay lợi ích nào khác.
2. Tự mình hoặc thông qua người thân thích, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác yêu cầu trợ giúp pháp lý.
Luật Trợ giúp pháp lý năm 2027 đã quy định này thì người được trợ giúp pháp lý có thể tự mình đến các Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý (Trung tâm trợ giúp pháp lý, chi nhánh thuộc Trung tâm , tổ chức ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý: là tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật hoặc tổ chức đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý) để yêu cầu được trợ giúp pháp lý hoặc cũng có thể nhờ người khác, vậy người khác là những ai được quyền yêu cầu thay người được trợ giúp pháp lý: đó là người thân thích, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác yêu cầu trợ giúp pháp lý.
- Người thân thích của người được trợ giúp pháp lý được xác định  căn cứ theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 4 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 bao gồm: vợ, chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố chồng, mẹ chồng, bố vợ, mẹ vợ, bố nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột, cụ nội, cụ ngoại, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, cháu ruột.
3. Được thông tin về quyền được trợ giúp pháp lý, trình tự, thủ tục trợ giúp pháp lý khi đến tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và các cơ quan nhà nước có liên quan.
Quy định này thể hiện quyền của người dân trong việc được cung cấp thông tin đầy đủ và rõ ràng về các quyền lợi và quy trình trợ giúp pháp lý mà họ có thể nhận được. Người được trợ giúp pháp lý được biết rõ về quyền của mình trong việc được trợ giúp pháp lý. Điều này giúp họ nhận thức được quyền lợi mà pháp luật trao cho họ, đặc biệt khi họ không đủ khả năng chi trả cho dịch vụ pháp lý, đồng thời được thông tin chi tiết về cách thức và trình tự để yêu cầu trợ giúp pháp lý. Điều này có thể bao gồm việc cần chuẩn bị hồ sơ, liên hệ với các cơ quan hoặc tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, thời gian giải quyết yêu cầu, và các quy trình liên quan. Các tổ chức trợ giúp pháp lý và cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung cấp thông tin này trực tiếp cho người dân khi họ đến yêu cầu trợ giúp. Điều này không chỉ giúp người dân hiểu rõ hơn về quyền lợi của mình mà còn đảm bảo rằng họ có thể tiếp cận và sử dụng dịch vụ trợ giúp pháp lý một cách dễ dàng. Các cơ quan nhà nước và tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý cần chủ động cung cấp thông tin đầy đủ về các hình thức trợ giúp, các loại dịch vụ, và các yêu cầu thủ tục để người dân có thể chuẩn bị tốt hơn cho việc nhận trợ giúp.
4. Yêu cầu giữ bí mật về nội dung vụ việc trợ giúp pháp lý.
Khi tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý thụ lý vụ việc trợ giúp pháp lý, người được trợ giúp pháp lý có quyền yêu cầu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và người thực hiện trợ giúp pháp lý giữ bí mật về nội dung vụ việc trợ giúp pháp lý cho mình. Trong trường hợp tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và người thực hiện trợ giúp pháp lý cố tình tiết lộ thông tin mà việc tiết lộ thông tin gây thiệt hại cho người được trợ giúp pháp lý thì người được trợ giúp pháp lý có quyền yêu cầu tổ chức thực hiện hoặc người thực hiện trợ giúp pháp lý bồi thường thiệt hại cho mình nếu việc tiết lộ thông tin gây ra thiệt hại.
Việc quy định người được trợ giúp pháp lý có yêu cầu giữ bí mật về nội dung vụ việc trợ giúp pháp lý là quy định quan trọng và đặc biệt cần thiết đối với người được trợ giúp pháp lý là phụ nữ nhất là đối với trẻ em gái và phụ nữ là nạn nhân trong các vụ án về xâm hại tình dục, nạn nhân bạo lực gia đình, nạn nhân của tội mua bán người...
5. Lựa chọn một tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và người thực hiện trợ giúp pháp lý tại địa phương trong danh sách được công bố; yêu cầu thay đổi người thực hiện trợ giúp pháp lý khi người đó thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 25 của Luật Trợ giúp pháp lý.
Luật trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định người được trợ giúp pháp lý có quyền: “lựa chọn một tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và người thực hiện trợ giúp pháp lý tại địa phương trong danh sách được công bố”. Theo quy định này, Người được trợ giúp pháp lý có thể tự mình lựa chọn tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý hoặc người thực hiện trợ giúp pháp lý cho mình mà không bị tổ chức hoặc cá nhân khác ngăn cản, tác động.
6. Thay đổi, rút yêu cầu trợ giúp pháp lý.
Người được trợ giúp pháp lý có quyền thay đổi, rút yêu cầu trợ giúp pháp lý vào bất cứ thời điểm nào trong quá trình thực hiện vụ việc. Việc thay đổi hoặc rút yêu cầu trợ giúp pháp lý có thể liên quan đến việc thay đổi tình tiết hoặc thay đổi đương sự trong vụ án, việc quy định quyền này nhằm thể hiện sự tôn trọng ý chí của người được trợ giúp pháp lý. Trong trường hợp người được trợ giúp pháp lý muốn thay đổi hoặc rút yêu cầu trợ giúp pháp lý thì người được trợ giúp pháp lý làm đơn nêu rõ yêu cầu thay đổi hoặc rút yêu cầu trợ giúp pháp lý gửi tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý. Khi người được trợ giúp pháp lý rút yêu cầu trợ giúp pháp lý thì vụ việc trợ giúp pháp lý không được tiếp tục thực hiện theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 37 Luật trợ giúp pháp lý năm 2017.
7. Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Quy định này phản ánh quyền của người được trợ giúp pháp lý trong việc yêu cầu bồi thường khi bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật hoặc do lỗi của tổ chức, cá nhân thực hiện trợ giúp pháp lý khác gây ra. Đây là một trong những quyền cơ bản của người được trợ giúp nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của họ khi bị xâm phạm trong quá trình được trợ giúp. Phạm vi thiệt hại cần được bồi thường phụ thuộc vào các yếu tố cụ thể của từng vụ việc. Trong đó, việc bồi thường phải tương xứng với mức độ thiệt hại thực tế mà người bị thiệt hại gặp phải.
8. Khiếu nại, tố cáo về trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định người được trợ giúp pháp lý có quyền khiếu nại đối với các hành vi sau của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý khi có căn cứ cho rằng hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình: (1) Từ chối thụ lý vụ việc trợ giúp pháp lý; (2) Không thực hiện trợ giúp pháp lý; (3) Thực hiện trợ giúp pháp lý không đúng pháp luật; (4) Thay đổi người thực hiện trợ giúp pháp lý không đúng pháp luật. Người đứng đầu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có trách nhiệm giải quyết khiếu nại đối với các hành vi trên trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được khiếu nại. Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của người đứng đầu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý hoặc quá thời hạn mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lên Giám đốc Sở Tư pháp.
b) Nghĩa vụ của phụ nữ vùng nông thôn khi được trợ giúp pháp lý
Điều 9 Luật Trợ giúp pháp lý, trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý, người được trợ giúp pháp lý là lao động chưa thành niên có các nghĩa vụ sau đây:

1. Cung cấp giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý.
Để được hưởng các quyền của người được trợ giúp pháp lý, thì người có yêu cầu trợ giúp pháp lý có nghĩa vụ cung cấp giấy tờ chứng minh mình thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.
2. Hợp tác, cung cấp kịp thời, đầy đủ thông tin, tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý và chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin, tài liệu, chứng cứ đó.
Trong quá trình thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý, việc cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý rất quan trọng, ảnh hưởng lớn đến kết quả giải quyết vụ việc. Việc cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ đầy đủ, kịp thời của người được trợ giúp pháp lý là cơ sở để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Trong trường hợp người được trợ giúp pháp lý không cung cấp hoặc cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ có liên quan về vụ việc trợ giúp pháp lý không đầy đủ hoặc không chính xác thì chính họ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi trong phán quyết của cơ quan tiến hành tố tụng.
3. Tôn trọng tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý.
Trong quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý, người được trợ giúp pháp lý phải tôn trọng tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý. Quy định này có mục đích bảo đảm tính minh bạch, trật tự, và sự hợp tác hiệu quả trong quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý. Đây là một phần quan trọng trong việc duy trì một hệ thống pháp lý công bằng và có tổ chức, đồng thời bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan. Điều này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của người yêu cầu trợ giúp mà còn giúp duy trì sự hợp tác, tôn trọng lẫn nhau giữa tất cả các bên tham gia vào quá trình giải quyết vụ việc.
4. Không yêu cầu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý khác trợ giúp pháp lý cho mình về cùng một vụ việc đang được một tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý thụ lý, giải quyết.
Quy định này nhằm tránh tình trạng trùng lặp và không cần thiết trong việc trợ giúp pháp lý, khi một tổ chức đã nhận thụ lý và đang giải quyết vụ việc của người yêu cầu trợ giúp. Điều này đảm bảo rằng việc trợ giúp pháp lý được tổ chức và thực hiện một cách có hệ thống, giúp tránh tình trạng lãng phí tài nguyên, thời gian và công sức của các tổ chức trợ giúp pháp lý.
Khi một vụ việc đang được một tổ chức trợ giúp pháp lý giải quyết, việc yêu cầu một tổ chức khác can thiệp có thể dẫn đến sự chồng chéo về công việc và gây xung đột giữa các tổ chức, việc đảm bảo rằng chỉ có một tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý cho một vụ việc giúp duy trì sự rõ ràng và tránh việc giải quyết vụ việc một cách phân tán, không hiệu quả. Một tổ chức trợ giúp pháp lý khi thụ lý vụ việc phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về vụ việc đó, từ việc tư vấn, hỗ trợ pháp lý cho đến đại diện cho khách hàng trong các thủ tục pháp lý.
5. Chấp hành pháp luật về trợ giúp pháp lý và nội quy nơi thực hiện trợ giúp pháp lý.            
Quy định này nhấn mạnh trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân và người yêu cầu trợ giúp pháp lý trong việc tuân thủ các quy định pháp lý và quy tắc nội bộ của các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý. Chấp hành pháp luật và nội quy nơi thực hiện trợ giúp pháp lý có nghĩa là mọi hành vi và hoạt động liên quan đến trợ giúp pháp lý phải tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành, bao gồm các điều khoản trong Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Trợ giúp pháp lý, và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan khác cũng như bảng nội quy của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý.
Việc này đảm bảo rằng trợ giúp pháp lý được thực hiện đúng quy trình, không xâm phạm quyền lợi hợp pháp của các bên và bảo vệ công lý trong các vụ việc.

II. QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA PHỤ NỮ VÙNG NÔNG THÔN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

1. Đặc điểm pháp lý của phụ nữ vùng nông thôn

Phụ nữ ở vùng nông thôn có những đặc điểm và hoàn cảnh sống riêng biệt, từ đó tạo ra những thách thức lớn trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ trong lĩnh vực pháp luật. Một số yếu tố đặc trưng có thể kể đến bao gồm:

1.1 Trình độ học vấn:

Phụ nữ vùng nông thôn thường có trình độ học vấn thấp hơn so với phụ nữ thành thị, đặc biệt thể hiện ở phụ nữ lớn tuổi và sinh sống ở các vùng miền núi có điều kiện kinh tế khó khăn. Điều này không chỉ thể hiện qua số lượng phụ nữ nông thôn tham gia vào hệ thống giáo dục mà còn phản ánh sự tiếp cận và khả năng học hỏi của họ về các vấn đề xã hội và pháp lý. Có một số lý do quan trọng giải thích tại sao trình độ học vấn thấp lại ảnh hưởng đến việc bảo vệ quyền lợi pháp lý của phụ nữ vùng nông thôn:
a) Hạn chế trong việc tiếp cận thông tin: Phụ nữ có trình độ học vấn thấp ít có khả năng tiếp cận các nguồn thông tin pháp lý cần thiết. Việc thiếu kiến thức cơ bản về các quyền và nghĩa vụ của mình khiến họ dễ dàng trở thành đối tượng bị xâm phạm quyền lợi mà không biết cách phản kháng hoặc yêu cầu bảo vệ. Ví dụ, họ không biết về quyền sở hữu tài sản, quyền thừa kế, hoặc quyền được bảo vệ khỏi bạo lực gia đình.
b) Khả năng hiểu và áp dụng pháp luật: Trình độ học vấn thấp cũng đồng nghĩa với việc thiếu kỹ năng đọc hiểu và phân tích các văn bản pháp lý phức tạp. Điều này khiến phụ nữ không thể tự mình hiểu rõ những quyền lợi mà họ có thể yêu cầu hoặc bảo vệ trong các tình huống pháp lý cụ thể, như trong việc ly hôn, phân chia tài sản, hoặc khi bị xâm phạm quyền lợi.
c) Thiếu sự tự tin trong việc yêu cầu bảo vệ quyền lợi: Những người phụ nữ không được học hành đầy đủ có thể cảm thấy thiếu tự tin khi đối diện với các cơ quan pháp lý hoặc khi phải tham gia vào các thủ tục pháp lý. Họ có thể cảm thấy bất an hoặc lo ngại rằng mình không có đủ khả năng để đấu tranh bảo vệ quyền lợi của mình.

1.2. Ảnh hưởng của văn hóa truyền thống và phân biệt giới tính vùng nông thôn:

Trong nhiều cộng đồng, văn hóa truyền thống và phân biệt giới tính ở vùng nông thôn vẫn là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyền lợi và khả năng bảo vệ của phụ nữ. Tư tưởng truyền thống thường phân công vai trò xã hội và gia đình rất rõ ràng giữa nam và nữ. Phụ nữ trong các gia đình nông thôn thường được gán trách nhiệm chăm sóc gia đình, làm việc nông nghiệp và duy trì các công việc nội trợ. Đây là những yếu tố có ảnh hưởng sâu sắc đến quyền lợi và cơ hội của phụ nữ nông thôn trong việc tham gia vào các lĩnh vực xã hội và kinh tế, bao gồm cả việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ.
a) Giới hạn trong vai trò truyền thống: Phụ nữ nông thôn thường bị ép buộc vào những vai trò truyền thống trong gia đình và xã hội. Vai trò của họ bị giới hạn trong các công việc nội trợ và nông nghiệp, làm giảm khả năng tham gia vào các hoạt động xã hội như làm việc ngoài trời, tham gia vào các cuộc họp cộng đồng hay tham gia các khóa học kỹ năng và pháp luật. Điều này tạo ra một khoảng cách lớn giữa phụ nữ và các cơ hội tiếp cận với thông tin và dịch vụ pháp lý.
b) Phân biệt giới trong quyền lợi tài sản: Phân biệt giới trong xã hội nông thôn còn thể hiện rõ qua quyền lợi tài sản. Phụ nữ ở nhiều nơi vẫn chưa được công nhận đầy đủ quyền sở hữu tài sản, đặc biệt là quyền thừa kế, hoặc quyền quyết định trong các vấn đề tài chính gia đình. Đặc biệt trong các gia đình truyền thống, quyền quyết định tài chính và sở hữu đất đai thường thuộc về nam giới, khiến phụ nữ không thể bảo vệ quyền lợi tài sản của mình khi có tranh chấp hoặc khi họ phải đối mặt với tình trạng mất quyền sở hữu tài sản.
c) Khó khăn trong việc thay đổi nhận thức xã hội: Việc thay đổi các quan niệm truyền thống về giới trong các cộng đồng nông thôn không phải là điều dễ dàng. Sự phân biệt giới trong các hoạt động kinh tế, chính trị và xã hội không chỉ làm giảm khả năng tiếp cận các cơ hội của phụ nữ mà còn tạo ra những rào cản tâm lý và xã hội lớn. Phụ nữ ở nông thôn có thể cảm thấy không có quyền tham gia vào các vấn đề xã hội, không dám lên tiếng khi quyền lợi bị xâm phạm, và thiếu tự tin trong việc tìm kiếm sự trợ giúp pháp lý.

1.3. Thiếu khả năng tiếp cận dịch vụ pháp lý

Mặc dù Việt Nam đã có những quy định pháp lý rõ ràng bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, nhưng ở các vùng nông thôn, việc tiếp cận các dịch vụ pháp lý của phụ nữ vẫn còn rất hạn chế. Điều này có thể lý giải bởi một số nguyên nhân sau:
a) Thiếu các cơ sở trợ giúp pháp lý tại địa phương: Các dịch vụ trợ giúp pháp lý ở các vùng nông thôn thường rất hạn chế và thiếu thốn về số lượng cũng như chất lượng. Các cơ sở trợ giúp pháp lý như các tổ chức xã hội, các văn phòng luật sư, và các trung tâm tư vấn pháp lý thường chỉ tập trung ở các thành phố lớn, trong khi ở vùng nông thôn, phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận những dịch vụ này.
b) Khó khăn trong việc tìm kiếm sự hỗ trợ: Phụ nữ nông thôn thường không biết phải tìm sự trợ giúp ở đâu khi gặp vấn đề pháp lý. Họ có thể không nhận thức được rằng họ có quyền yêu cầu trợ giúp từ các tổ chức hoặc cơ quan pháp lý. Hơn nữa, vì không có phương tiện di chuyển dễ dàng (đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa), phụ nữ sẽ gặp khó khăn trong việc di chuyển đến các cơ sở pháp lý để yêu cầu trợ giúp.
c) Khó khăn về tài chính: Ngay cả khi có các dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí hoặc giá rẻ, phụ nữ nông thôn thường gặp khó khăn trong việc chi trả cho các chi phí đi lại, tư vấn pháp lý hoặc các thủ tục hành chính liên quan. Các khoản chi này có thể quá sức đối với họ khi cuộc sống đã quá khó khăn về mặt kinh tế.
d) Thiếu thông tin pháp lý: Phụ nữ nông thôn không có đủ thông tin về các dịch vụ pháp lý có sẵn, các tổ chức có thể hỗ trợ họ, và cách thức tiếp cận các dịch vụ này. Điều này khiến họ rơi vào tình trạng bế tắc khi gặp phải các vấn đề pháp lý mà không biết cách giải quyết.
Ba yếu tố này - trình độ học vấn, văn hóa truyền thống và phân biệt giới, và thiếu khả năng tiếp cận dịch vụ pháp lý - tạo ra những rào cản lớn đối với phụ nữ nông thôn trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Những rào cản này không chỉ khiến phụ nữ dễ bị thiệt thòi mà còn hạn chế cơ hội của họ trong việc phát triển bản thân và đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội. Do đó, việc cải thiện trình độ học vấn, thay đổi nhận thức về vai trò của phụ nữ trong xã hội, và tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ pháp lý là rất quan trọng để đảm bảo quyền lợi của phụ nữ vùng nông thôn được bảo vệ một cách đầy đủ và công bằng.

2. Một số quyền pháp lý điển hình của phụ nữ vùng nông thôn

Phụ nữ nói chung và phụ nữ ở nông thôn nói riêng luôn là một lực lượng quan trọng và đông đảo trong đội ngũ những người lao động tạo dựng nên xã hội. Phụ nữ thể hiện vai trò quan trọng và không thể tách rời ở mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội. Trải qua hàng trăm năm tranh đấu, đến nay, quyền của phụ nữ đã được thừa nhận trên toàn thế giới. Việc quy định quyền của phụ nữ trong pháp luật là sự ghi nhận về mặt pháp lý đối với vai trò của nữ giới trong xã hội, đây là bước tiến trong sự nghiệp giải phóng con người nói chung và giải phóng phụ nữ nói riêng.
Từ thời phong kiến, những văn bản pháp luật đầu tiên về quyền công dân, trong đó có quyền của phụ nữ được ban hành. Tuy nhiên, trong từng điều kiện, hoàn cảnh của đất nước, nên ở mỗi thời kỳ, các quyền công dân nói chung và quyền của phụ nữ nói riêng được thể hiện và phát triển vừa có tính kế thừa vừa có sự đổi mới. Hiện nay, những quyền cơ bản của phụ nữ được ghi nhận trong Hiến pháp và cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật như Luật Bình đẳng giới, Bộ luật Dân sự, Luật Bảo hiểm xã hội, Bộ luật Lao động, Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật Hình sự, Luật Phòng chống bạo lực gia đình,…

2.1 Quyền của phụ nữ trong các bản Hiến pháp

Tháng 10/1946 bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chính thức được ban hành, quyền bình đẳng giữa nam và nữ được công nhận. Cụ thể, Điều 9 Hiến pháp năm 1946 khẳng định: “Đàn bà ngang quyền đàn ông về mọi phương diện”. Có thể nói, quy định của Hiến pháp năm 1946 có ý nghĩa rất lớn trong bối cảnh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vừa mới được thành lập, góp phần phá tan xiềng xích tư tưởng “trọng nam khinh nữ” của chế độ phong kiến, chế độ thuộc địa nửa phong kiến. So với Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 đã cụ thể hóa hơn các lĩnh vực mà người phụ nữ được quyền bình đẳng với nam giới. Quyền bình đẳng nam nữ được thể hiện trên 5 lĩnh vực từ xã hội đến gia đình bao hàm tất cả các mặt của đời sống xã hội. Khác với hai bản Hiến pháp năm 1946 và năm 1959, trong Hiến pháp năm 1980, quyền của phụ nữ vừa được lồng vào các quyền cơ bản của công dân, vừa được quy định riêng nhằm tạo ra những điểm nhấn quan trọng, khẳng định quyền của phụ nữ. Lần đầu tiên, văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất của Nhà nước ta xác định: “Công dân không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và từ 21 tuổi trở lên đều có thể được bầu vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp" (Điều 57). Có thể khẳng định, Hiến pháp năm 1980 là bản Hiến pháp tiến bộ, ở đó quyền của công dân Việt Nam nói chung và quyền của phụ nữ nói riêng đã được khẳng định ở tầm cao hơn, cụ thể hơn. Về cơ bản, quyền của phụ nữ trong Hiến pháp năm 1992 kế thừa những quy định tiến bộ của Hiến pháp năm 1980, nhưng nhấn mạnh: "Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ" (Điều 63). So với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp mới 2013 có những sửa đổi, bổ sung và phát triển thể hiện tầm quan trọng về quyền con người, theo đó phụ nữ có đầy đủ các quyền cơ bản của con người và công dân, đó là:
          – Quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm;
          – Quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình;
          – Quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác;
          – Quyền có nơi ở hợp pháp; quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở;
          – Quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước;
          – Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; ….

2.2. Quyền của phụ nữ vùng nông thôn theo Luật Bình đẳng giới
          Bình đẳng giới có nghĩa là nam và nữ có cơ hội và quyền lợi ngang nhau trong mọi lĩnh vực của xã hội và gia đình. Cả hai đều được tạo điều kiện để phát huy khả năng của mình, đóng góp cho sự phát triển chung của cộng đồng và gia đình, và hưởng lợi từ thành quả của sự phát triển đó mà không bị phân biệt vì giới tính.

Theo đó, Nhà nước cam kết bảo đảm cho phụ nữ quyền bình đẳng trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình. Nhà nước cũng bảo vệ và hỗ trợ phụ nữ khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ; tạo cơ hội để nam và nữ cùng chia sẻ công việc trong gia đình. Đồng thời, Nhà nước sẽ áp dụng các biện pháp để loại bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu cản trở việc thực hiện bình đẳng giới. Cũng có những hỗ trợ đặc biệt cho hoạt động bình đẳng giới ở các vùng sâu, vùng xa, khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, và những nơi có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.

2.3 Bộ luật Lao động

Bộ luật Lao động đã dành một chương (Chương X) quy định riêng đối với lao động nữ và bảo đảm bình đẳng giới. Theo đó, Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền làm việc bình đẳng của lao động nữ; khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều kiện để lao động nữ có việc làm thường xuyên, áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn thời gian, giao việc làm tại nhà; có biện pháp tạo việc làm, cải thiện điều kiện lao động, nâng cao trình độ nghề nghiệp, chăm sóc sức khoẻ, tăng cường phúc lợi về vật chất và tinh thần của lao động nữ nhằm giúp lao động nữ phát huy có hiệu quả năng lực nghề nghiệp, kết hợp hài hoà cuộc sống lao động và cuộc sống gia đình. Luật quy định rõ, nghiêm cấm người sử dụng lao động có hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, thực hiện nguyên tắc bình đẳng nam, nữ về tuyển dụng, sử dụng, nâng bậc lương và trả công lao động; lao động nữ được dành thời gian trong thời gian lao động để cho con bú, làm vệ sinh phụ nữ; không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì kết hôn, có thai, nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi.

2.4. Luật Bảo hiểm xã hội

Theo Luật Bảo hiểm xã hội, phụ nữ được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội như: chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất, thất nghiệp, mất sức lao động,… Bên cạnh đó, Luật còn quy định quyền lợi mang tính đặc thù đối với người phụ nữ và các đối tượng xã hội là phụ nữ cũng được hưởng trợ giúp vật chất với tư cách đối tượng cứu trợ xã hội. Đây là một phần quan trọng trong hệ thống pháp lý của Việt Nam, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, đặc biệt trong các tình huống khó khăn về sức khỏe, tài chính và đời sống xã hội.
Cụ thể, ngoài các quyền cơ bản giống như lao động nam, Luật Bảo hiểm xã hội cũng quy định các quyền lợi đặc thù đối với phụ nữ trong những hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập ổn định, hoặc đang gặp phải các vấn đề về sức khỏe, xã hội. Trong trường hợp này, phụ nữ có thể được nhận các khoản trợ cấp, hỗ trợ từ nhà nước hoặc các tổ chức xã hội dưới dạng cứu trợ vật chất. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ phụ nữ trong những tình huống khó khăn, đặc biệt đối với những phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn hoặc chịu sự phân biệt đối xử trong xã hội. Các đối tượng xã hội là phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ nghèo, phụ nữ đơn thân, phụ nữ bị bạo hành gia đình, hoặc những phụ nữ thuộc các nhóm yếu thế khác, cũng được xem xét và hưởng các biện pháp trợ giúp đặc biệt từ Nhà nước. Đây là một phần trong các chính sách hỗ trợ bảo vệ phụ nữ, giúp họ vượt qua các khó khăn trong cuộc sống.

2.5. Luật Hôn nhân và gia đình

Theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (được sửa đổi bổ sung trong các văn bản pháp lý sau này), quyền của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình được quy định cụ thể nhằm bảo vệ quyền lợi và thúc đẩy sự bình đẳng giới trong đời sống gia đình bao gồm một số quyền như:
- Quyền lựa chọn người kết hôn mà không bị ép buộc hay áp lực từ gia đình, xã hội. Họ có quyền quyết định việc kết hôn, li hôn và duy trì hay chấm dứt mối quan hệ hôn nhân của mình theo ý muốn;
- Quyền bình đẳng với chồng trong mọi vấn đề gia đình, từ quyền và nghĩa vụ trong việc nuôi dưỡng, giáo dục con cái, quản lý tài sản chung của vợ chồng đến quyền quyết định trong các công việc quan trọng của gia đình, không bị đối xử bất công hoặc bị ảnh hưởng tiêu cực bởi các phong tục, tập quán lạc hậu trong xã hội;
- Quyền sở hữu tài sản riêng và có quyền tham gia quản lý tài sản chung của vợ chồng, đồng thời quyền thừa kế và được bảo vệ quyền lợi hợp pháp nếu có tranh chấp tài sản;
- Quyền yêu cầu bảo vệ sức khỏe, tính mạng của mình trong gia đình. Điều này bao gồm quyền bảo vệ khỏi bạo lực gia đình, lạm dụng hoặc các hành vi xâm hại khác từ chồng hoặc các thành viên trong gia đình; được bảo vệ và hỗ trợ khi mang thai, sinh con và chăm sóc con nhỏ;
- Quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc con cái sau khi ly hôn, trừ khi có sự thay đổi trong các quyết định của tòa án. Quyền nuôi con luôn được xem xét dựa trên lợi ích của con cái, nhưng thông thường, phụ nữ được ưu tiên nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi;
- Quyền yêu cầu tòa án giải quyết các tranh chấp hôn nhân và gia đình, bao gồm các vấn đề ly hôn, quyền nuôi con, phân chia tài sản và các vấn đề pháp lý khác liên quan đến cuộc sống gia đình;

2.6. Bộ luật Hình sự

Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã thể chế hóa các quy định của Hiến pháp về quyền con người, đặc biệt là các điều luật bảo vệ quyền lợi của phụ nữ. Bộ luật này quy định các tội phạm liên quan đến phụ nữ và bảo vệ họ khỏi những hành vi xâm phạm. Cụ thể, hành vi phạm tội đối với phụ nữ có thai được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và cũng là một tình tiết tăng nặng trong các định khung hình phạt: giết người khi biết nạn nhân có thai (Điều 123), cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho phụ nữ mang thai (Điều 134), hành hạ phụ nữ có thai (Điều 140), tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đối với phụ nữ mang thai (Điều 255), hoặc cưỡng bức, lôi kéo phụ nữ mang thai sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 258),...
Bộ luật Hình sự cũng thể hiện chính sách khoan hồng và nhân đạo của Đảng và Nhà nước trong việc xử lý tội phạm là nữ giới, đặc biệt là phụ nữ có thai. Cụ thể, người phạm tội là phụ nữ mang thai sẽ được hưởng chính sách giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (Điều 51). Chính sách này cũng được thể hiện trong việc áp dụng hình phạt và thi hành án, khi không áp dụng hình phạt tử hình đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Ngoài ra, việc thi hành án tử hình đối với những phụ nữ này cũng sẽ được hoãn cho đến khi con của họ đủ 36 tháng tuổi.
Quyền của phụ nữ Việt Nam trong các bản Hiến pháp và văn bản pháp luật luôn thể hiện rõ hai yếu tố cơ bản: "bình đẳng và ưu tiên". Các quyền này được pháp luật đảm bảo nhằm tạo ra sự bình đẳng giữa nam và nữ trước pháp luật, xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử trong công việc, trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế và trong đời sống gia đình. Đồng thời, quyền ưu tiên (như trong tuyển dụng, sắp xếp công việc, nghỉ hưu...) giúp tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ phát huy khả năng của mình, đóng góp nhiều hơn cho gia đình và xã hội, đồng thời giảm thiểu rủi ro trong nghề nghiệp và cuộc sống gia đình.

III. TRỢ GIÚP PHÁP LÝ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA PHỤ NỮ VÙNG NÔNG THÔN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

1. Những vấn đề pháp lý thường gặp của phụ nữ vùng nông thôn

Phụ nữ vùng nông thôn, với đặc thù môi trường sống và văn hóa xã hội, thường phải đối mặt với nhiều vấn đề pháp lý đặc biệt, mà đôi khi họ không nhận thức được hoặc không có đủ thông tin để bảo vệ quyền lợi của mình. Những vấn đề pháp lý này có thể đến từ các lĩnh vực như quyền tài sản, bạo lực gia đình, quyền nuôi con, và phân biệt giới.

1.1. Bạo lực gia đình và xâm hại thể chất

Bạo lực gia đình và xâm hại thể chất đối với phụ nữ vùng nông thôn không chỉ là những hành vi gây tổn hại trực tiếp đến sức khỏe và tinh thần của nạn nhân, mà còn phản ánh sự bất bình đẳng giới, sự duy trì lối sống gia trưởng và những rào cản xã hội đã tồn tại trong nhiều thế hệ. Tại các vùng nông thôn, nơi hệ thống hỗ trợ xã hội còn hạn chế và tư tưởng truyền thống chi phối mạnh mẽ, nhiều phụ nữ phải đối mặt với tình trạng bạo lực kéo dài nhưng không biết cách hoặc không dám tìm kiếm sự giúp đỡ. Việc chịu đựng trong im lặng khiến họ bị tổn thương nặng nề hơn, làm gia tăng nguy cơ xâm hại thể chất, tinh thần và thậm chí đe dọa tính mạng.
Mặc dù Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 đã quy định rõ ràng các biện pháp bảo vệ nạn nhân, như cấm tiếp xúc, xử phạt hành chính, hỗ trợ khẩn cấp và truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng phụ nữ ở nông thôn vẫn là nhóm ít được tiếp cận thông tin pháp luật nhất. Nhiều người không biết rằng hành vi đánh đập, hành hạ, ép buộc quan hệ tình dục hoặc cô lập về kinh tế đều là hành vi bạo lực gia đình và bị pháp luật nghiêm cấm. Việc thiếu hiểu biết khiến họ không nhận ra mình có quyền yêu cầu cơ quan công an, hòa giải viên, tổ dân phố hoặc tòa án can thiệp kịp thời.
Trong bối cảnh đó, trẻ em gái ở nông thôn cũng là nhóm chịu rủi ro cao về xâm hại thể chất và tình dục. Do chịu ảnh hưởng của tâm lý e dè, thiếu giáo dục giới tính, thiếu kỹ năng tự bảo vệ, cùng với việc cha mẹ thường bận rộn lao động và ít giám sát, trẻ em gái dễ trở thành nạn nhân của người quen trong gia đình hoặc hàng xóm. Việc xâm hại trẻ em lại thường bị che giấu vì sợ “mất danh dự”, sợ bị đổ lỗi cho nạn nhân hoặc lo ngại ảnh hưởng đến uy tín của gia đình. Nhiều trường hợp trẻ bị bạo lực hoặc xâm hại kéo dài nhưng không được phát hiện do sự im lặng của người lớn và sự thiếu can thiệp của cộng đồng. Điều này không chỉ gây tổn thương nghiêm trọng cho sự phát triển thể chất và tinh thần của trẻ mà còn tạo nên hệ lụy lâu dài về tâm lý, học tập và khả năng hòa nhập xã hội.
Ngoài ra, ở nhiều cộng đồng nông thôn, quan niệm “chuyện nhà để nhà tự giải quyết” vẫn rất phổ biến. Bạo lực gia đình bị xem là vấn đề riêng tư, không nên đưa ra ngoài, khiến các nạn nhân - bao gồm cả phụ nữ và trẻ em gái - vừa bị kỳ thị, vừa chịu áp lực phải nhẫn nhịn để “giữ hòa khí gia đình”. Những quan niệm như “phụ nữ phải hy sinh”, “con gái phải chịu đựng”, “không được làm xấu mặt gia đình” góp phần tạo môi trường thuận lợi cho bạo lực và xâm hại tiếp diễn.
Bên cạnh đó, phụ nữ vùng nông thôn thường thiếu độc lập về kinh tế và phụ thuộc vào thu nhập của chồng hoặc gia đình chồng. Việc không có nguồn tài chính riêng khiến họ cảm thấy không có lựa chọn nào khác ngoài tiếp tục sống chung với người gây bạo lực. Nhiều người lo sợ khi rời bỏ gia đình sẽ không có nơi ở, không đủ điều kiện nuôi con, hoặc bị họ hàng trách móc. Những rào cản này khiến họ khó thoát khỏi vòng xoáy bạo lực, kéo theo nguy cơ trẻ em trong gia đình cũng bị ảnh hưởng, bị xâm hại hoặc bị bạo lực dây chuyền.
Tình trạng bạo lực gia đình và xâm hại thể chất đối với phụ nữ và trẻ em gái nông thôn không chỉ là vấn đề của cá nhân hay gia đình, mà còn là thách thức đối với cộng đồng và hệ thống pháp luật. Việc nâng cao nhận thức pháp lý, mở rộng mạng lưới hỗ trợ nạn nhân, tăng cường trách nhiệm của chính quyền cơ sở, trường học và tổ chức xã hội, cũng như thúc đẩy giáo dục giới tính và bình đẳng giới, là những giải pháp quan trọng để bảo vệ phụ nữ và trẻ em gái, giúp họ có môi trường sống an toàn và lành mạnh hơn.

1.2. Phân chia tài sản sau ly hôn

Phân chia tài sản sau ly hôn là một vấn đề pháp lý phức tạp mà nhiều phụ nữ vùng nông thôn phải đối mặt, đặc biệt khi tài sản chủ yếu là đất đai, nhà cửa và các tài sản nông nghiệp. Dù Luật Hôn nhân và Gia đình và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định rõ ràng rằng tài sản chung của vợ chồng sẽ được phân chia công bằng sau ly hôn, nhưng trong thực tế, phụ nữ vùng nông thôn thường không được phân chia tài sản một cách công bằng, dẫn đến những thiệt thòi đáng kể cho họ.
Một trong những yếu tố gây khó khăn trong việc phân chia tài sản là tình trạng đứng tên tài sản. Tại nhiều vùng nông thôn, tài sản chủ yếu là đất đai bao gồm đất ở, đất vườn, đất nông nghiệp, nhà ở, phương tiện giao thông và máy móc sản xuất nông nghiệp, thủ công,... nhưng những tài sản này lại thường đứng tên người chồng hoặc chỉ có tên của một bên trong gia đình, trong khi người vợ có thể đã cùng chồng đóng góp công sức lao động trong suốt quá trình tạo dựng tài sản đó. Nhiều trường hợp phụ nữ không được công nhận quyền lợi chính đáng trong việc sở hữu đất đai và tài sản nông nghiệp, mặc dù họ có vai trò quan trọng trong việc chăm sóc và phát triển các tài sản này.
Bên cạnh đó, do thiếu hiểu biết về pháp luật, nhiều phụ nữ không nhận thức được quyền lợi của mình trong việc phân chia tài sản sau ly hôn. Mặc dù pháp luật đã quy định rõ ràng về quyền phân chia tài sản dựa trên sự đóng góp của mỗi bên, nhưng do không hiểu rõ quy định này hoặc không có sự hỗ trợ pháp lý, họ có thể dễ dàng bị chồng hoặc các thành viên khác trong gia đình chiếm đoạt tài sản mà mình đáng được hưởng. Những phụ nữ này thường không biết cách yêu cầu sự can thiệp của pháp luật hoặc tòa án để bảo vệ quyền lợi của mình, dẫn đến việc họ phải chấp nhận phân chia tài sản không công bằng hoặc bị tước đoạt tài sản mà họ đã tham gia xây dựng.
Hơn nữa, trong nhiều gia đình nông thôn, tư duy truyền thống vẫn còn mạnh mẽ, khi cho rằng tài sản trong gia đình thuộc quyền sở hữu của nam giới, và phụ nữ chỉ đóng vai trò hỗ trợ. Điều này khiến cho việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong các tranh chấp tài sản càng trở nên khó khăn hơn. Mặc dù phụ nữ có quyền yêu cầu chia tài sản công bằng, nhưng việc giải quyết các tranh chấp tài sản trong bối cảnh văn hóa truyền thống có thể khiến họ không được đối xử công bằng, bởi quyền lợi của họ thường không được coi trọng như của người chồng.
Cuối cùng, quy trình và thủ tục pháp lý để phân chia tài sản sau ly hôn cũng là một rào cản lớn đối với phụ nữ ở nông thôn. Việc tiếp cận các dịch vụ pháp lý, như các văn phòng luật sư hoặc các tổ chức bảo vệ quyền lợi phụ nữ, thường gặp khó khăn lớn vì chi phí cao và thiếu các cơ sở trợ giúp pháp lý ở các khu vực nông thôn. Thêm vào đó, thủ tục pháp lý để yêu cầu phân chia tài sản có thể kéo dài và phức tạp, khiến nhiều phụ nữ không có đủ thời gian và sức lực để theo đuổi vụ kiện.
Ví dụ: Sau khi ly hôn với chồng, chị Mai phát hiện rằng tất cả tài sản chung, bao gồm đất đai và nhà cửa, đều đứng tên chồng chị. Dù chị đã cùng chồng đóng góp công sức trong suốt thời gian xây dựng và phát triển các tài sản này, nhưng khi ly hôn, chồng chị đã yêu cầu giữ toàn bộ tài sản. Vì thiếu kiến thức pháp lý, chị Mai không biết phải làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình, và trong một thời gian dài, chị đành chấp nhận thiệt thòi. Tuy nhiên, sau khi được người thân giới thiệu về các dịch vụ tư vấn pháp lý, chị mới bắt đầu tìm hiểu về quyền lợi của mình và quyết định khởi kiện để đòi lại phần tài sản công bằng.
Trường hợp này chị là một trong rất nhiều ví dụ cho thấy sự bất công trong việc phân chia tài sản sau ly hôn đối với phụ nữ vùng nông thôn. Để giải quyết vấn đề này, cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, cung cấp kiến thức pháp lý cho phụ nữ, đồng thời cải thiện các dịch vụ pháp lý tại các vùng nông thôn để phụ nữ có thể bảo vệ quyền lợi của mình khi cần thiết. Chỉ khi phụ nữ nhận thức được quyền lợi của mình và có đủ sự hỗ trợ pháp lý, họ mới có thể bảo vệ tài sản và quyền lợi hợp pháp của mình một cách hiệu quả.

1.3. Tranh chấp thừa kế

Thừa kế là một vấn đề pháp lý quan trọng trong đời sống gia đình, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, nơi tài sản chủ yếu là đất đai, nhà cửa, và các tài sản nông nghiệp. Vấn đề thừa kế của phụ nữ tại các vùng nông thôn thường gặp phải nhiều thách thức, do yếu tố văn hóa, truyền thống và sự bất bình đẳng giới trong phân chia tài sản. Mặc dù pháp luật Việt Nam đã có những quy định rõ ràng để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong thừa kế tài sản, nhưng trong thực tế, phụ nữ ở nông thôn vẫn gặp nhiều bất lợi, bị phân biệt trong việc nhận thừa kế, đặc biệt là quyền thừa kế tài sản đất đai.
Mặc dù theo quy định của pháp luật Việt Nam, đặc biệt là Bộ luật Dân sự 2015, phụ nữ có quyền thừa kế tài sản như nam giới, và mọi người đều có quyền thừa kế tài sản mà không phân biệt giới tính, nhưng thực tế ở các vùng nông thôn, nhiều gia đình vẫn theo các quan niệm truyền thống, trong đó quyền thừa kế tài sản, đặc biệt là đất đai, thường nghiêng về nam giới. Phụ nữ, dù có đóng góp đáng kể vào công việc canh tác, chăm sóc đất đai, chăm sóc gia đình, nhưng thường không được công nhận quyền thừa kế đối với tài sản đất đai của gia đình.
Văn hóa và truyền thống xã hội ở các vùng nông thôn thường định hình quan niệm rằng đất đai là tài sản của nam giới và chỉ có nam giới mới có quyền sở hữu, chuyển nhượng hoặc thừa kế tài sản đất đai. Trong nhiều gia đình, khi người cha qua đời, tài sản đất đai không được chia đều giữa các con trai và con gái, mà chỉ truyền lại cho con trai. Điều này xuất phát từ quan niệm rằng con gái khi lấy chồng sẽ được cấp đất đai riêng từ gia đình chồng, vì vậy họ không được chia tài sản đất đai của cha mẹ.
Ví dụ, ở một số cộng đồng nông thôn, khi một người cha qua đời thường không có di chúc, gia đình sẽ thống nhất người con trai được nhận toàn bộ quyền sử dụng đất của cha, trong khi các con gái không được thừa kế hoặc chỉ được thừa kế các tài sản khác như tiền bạc hoặc tài sản nhỏ hơn. Dù trong thực tế những người phụ nữ này đã đóng góp công sức vào công việc canh tác, chăm sóc đất đai trong nhiều năm, nhưng họ vẫn không được chia phần đất đai mà họ đã gắn bó. Điều này dẫn đến sự bất bình đẳng trong quyền thừa kế và sự thiệt thòi cho phụ nữ, đặc biệt trong những gia đình có tài sản chủ yếu là đất đai.
Một vấn đề quan trọng khác mà phụ nữ ở nông thôn phải đối mặt trong việc thừa kế tài sản là thiếu kiến thức về pháp luật. Do trình độ học vấn và khả năng tiếp cận thông tin pháp lý hạn chế, nhiều phụ nữ không biết rằng họ có quyền yêu cầu chia tài sản thừa kế một cách công bằng, đặc biệt khi tranh chấp về quyền thừa kế xảy ra. Trong nhiều trường hợp, phụ nữ không nhận thức được rằng họ có thể yêu cầu chia tài sản thừa kế một cách hợp pháp nếu họ cảm thấy quyền lợi của mình bị xâm phạm.
Hơn nữa, nhiều phụ nữ không biết về quy trình thừa kế theo pháp luật và các quyền lợi của mình trong việc phân chia tài sản thừa kế. Đặc biệt là trong các trường hợp không có di chúc rõ ràng, việc phân chia tài sản thừa kế có thể gặp phải nhiều tranh chấp nếu không có sự hiểu biết đúng đắn về quyền thừa kế của mình. Khi không có sự hỗ trợ pháp lý, phụ nữ dễ dàng bị ép buộc phải chấp nhận phần tài sản ít ỏi, hoặc không được chia tài sản mà họ có quyền nhận.
Một vấn đề đặc biệt quan trọng trong quyền thừa kế của phụ nữ là các di chúc. Trong nhiều gia đình nông thôn, việc lập di chúc là một việc khá hiếm khi xảy ra, và nếu có, di chúc thường có xu hướng thiên vị con trai hoặc người nam trong gia đình. Điều này càng làm gia tăng sự bất công trong việc phân chia tài sản, đặc biệt là đất đai, khi mà người phụ nữ không được công nhận quyền lợi trong di chúc.
Trong trường hợp không có di chúc, Bộ luật Dân sự quy định rằng tài sản của người mất sẽ được chia theo pháp luật. Tuy nhiên, trong các gia đình nông thôn, sự phân chia tài sản này có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố truyền thống và văn hóa, khiến cho người phụ nữ không nhận được phần tài sản hợp pháp mà mình được hưởng.
Vấn đề thừa kế của phụ nữ ở nông thôn không chỉ là một vấn đề pháp lý mà còn là một vấn đề xã hội. Mặc dù pháp luật Việt Nam đã quy định rõ quyền thừa kế của phụ nữ, nhưng sự phân biệt giới và thiếu hiểu biết về pháp luật vẫn khiến nhiều phụ nữ không được hưởng đầy đủ quyền lợi của mình. Việc nâng cao nhận thức, cải thiện sự tiếp cận dịch vụ pháp lý và thúc đẩy thực thi công bằng pháp luật sẽ giúp bảo vệ quyền lợi thừa kế của phụ nữ, đảm bảo sự công bằng trong gia đình và xã hội.

1.4. Tranh chấp quyền nuôi con sau ly hôn

Tranh chấp quyền nuôi con sau ly hôn là một trong những vấn đề pháp lý phức tạp mà phụ nữ vùng nông thôn gặp phải, đặc biệt trong các tình huống gia đình tan vỡ. Mặc dù Luật Hôn nhân và Gia đình đã có quy định rõ ràng rằng quyền nuôi con sau ly hôn sẽ được ưu tiên giao cho người mẹ, nhất là đối với trẻ dưới 36 tháng tuổi, nhưng trong thực tế, phụ nữ vùng nông thôn vẫn gặp không ít khó khăn trong việc bảo vệ quyền lợi nuôi con của mình, nhất là khi tranh chấp giữa các bên diễn ra gay gắt.
Một trong những vấn đề chủ yếu mà phụ nữ gặp phải là khó khăn trong việc chứng minh khả năng nuôi dưỡng con cái. Ở các vùng nông thôn, phụ nữ thường phải gánh vác phần lớn công việc gia đình và chăm sóc con cái, đồng thời tham gia lao động sản xuất, chăm sóc cây trồng hoặc chăn nuôi. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế khó khăn, nhiều phụ nữ không thể chứng minh rõ ràng về khả năng tài chính hoặc điều kiện vật chất để nuôi dưỡng con cái, điều này làm ảnh hưởng đến quyền nuôi con của họ trong các vụ ly hôn. Khi có tranh chấp, chồng hoặc người thân của chồng có thể lợi dụng tình hình này để yêu cầu tòa giao quyền nuôi con cho họ, mặc dù mẹ vẫn có tình cảm và mong muốn nuôi dưỡng con cái.
Áp lực xã hội và văn hóa truyền thống cũng là một yếu tố gây khó khăn cho phụ nữ trong việc bảo vệ quyền nuôi con. Trong nhiều cộng đồng nông thôn, quan niệm truyền thống vẫn cho rằng phụ nữ phải chịu trách nhiệm chính trong việc chăm sóc con cái, nhưng khi ly hôn, họ lại không được tôn trọng quyền nuôi con của mình. Trong nhiều trường hợp, người chồng hoặc gia đình nhà chồng có thể tận dụng những giá trị truyền thống để gây áp lực buộc phụ nữ phải từ bỏ quyền nuôi con, hoặc chồng có thể lợi dụng mối quan hệ với gia đình và cộng đồng để lấy được quyền nuôi con.
Hơn nữa, nhiều phụ nữ không biết các quyền lợi của mình và không có đủ khả năng tiếp cận các dịch vụ pháp lý hỗ trợ. Thủ tục pháp lý để yêu cầu quyền nuôi con có thể rất phức tạp và kéo dài, đặc biệt khi thiếu sự can thiệp kịp thời của các tổ chức xã hội hoặc cơ quan chức năng. Điều này khiến phụ nữ dễ bị tổn thương và không có cơ hội bảo vệ quyền lợi của mình trong việc nuôi dưỡng con cái sau ly hôn.
Ví dụ: Chị Hoa sau khi ly hôn đã phải đối mặt với việc tranh giành quyền nuôi con với chồng cũ. Dù chị là người mẹ duy nhất chăm sóc con từ khi sinh ra, nhưng chồng chị vẫn yêu cầu tòa án giao quyền nuôi con cho anh, vì lý do anh có điều kiện tài chính tốt hơn. Chị Hoa không có đủ hiểu biết về quyền lợi của mình trong việc nuôi con và đã phải nhờ đến sự giúp đỡ của trợ giúp pháp lý.
Trường hợp này phản ánh thực tế nhiều phụ nữ gặp phải khi ly hôn. Mặc dù họ có thể là người nuôi dưỡng chính trong gia đình, nhưng quyền nuôi con vẫn có thể bị tranh chấp nếu người chồng hoặc gia đình nhà chồng sử dụng các yếu tố như tài chính, quan hệ gia đình hoặc sự can thiệp từ cộng đồng để làm mất quyền lợi của phụ nữ.
Pháp luật mặc dù đã bảo vệ quyền lợi của người mẹ trong việc nuôi dưỡng con cái, tuy nhiên vẫn cần hành lang pháp lý bảo đảm rằng yếu tố tài chính không phải là yếu tố quyết định duy nhất trong quyền nuôi con, mà cần phải xét đến tình cảm và sự gắn bó của người mẹ với đứa trẻ.

1.5. Tranh chấp tài sản hụi, họ, biêu, phường

Tranh chấp tài sản liên quan đến các hình thức góp vốn tín dụng không chính thức như hụi, họ, biêu, phường là một vấn đề pháp lý phổ biến ở các vùng nông thôn, nơi nhiều người tham gia vào các hình thức này như một cách để giải quyết khó khăn tài chính hoặc đầu tư vào các nhu cầu trong gia đình. Tuy nhiên, các hình thức này thiếu sự minh bạch và không được quy định chính thức theo pháp luật, khiến cho nhiều phụ nữ trở thành nạn nhân trong các tranh chấp tài sản.
Hụi, họ, biêu, phường ở nông thôn thường không có hợp đồng chính thức và không có sự giám sát của cơ quan pháp lý, điều này tạo ra một môi trường dễ dẫn đến lừa đảo và tranh chấp. Phụ nữ, đặc biệt là những người ít hiểu biết về pháp lý, thường không nhận thức được các rủi ro liên quan và dễ dàng trở thành đối tượng bị lợi dụng. Khi xảy ra tranh chấp, họ không có cơ sở pháp lý để đòi lại tài sản của mình, vì thiếu hợp đồng rõ ràng hay chứng cứ hợp pháp. Trong nhiều trường hợp, các phụ nữ tham gia vào các giao dịch này không thể đòi lại tiền của mình dù đã đóng góp đầy đủ, vì không có hợp đồng hay giấy tờ chứng nhận sự tham gia. Hơn nữa, sự thiếu minh bạch trong các giao dịch cũng khiến cho việc xác định ai có trách nhiệm trong việc đền bù hoặc giải quyết tranh chấp trở nên khó khăn.
Bên cạnh đó, phụ nữ ở nông thôn cũng gặp phải nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ pháp lý khi có tranh chấp về tài sản. Các cơ sở pháp lý ở nông thôn thường rất hạn chế, và nhiều phụ nữ không biết đến các dịch vụ tư vấn pháp lý miễn phí hoặc không có đủ điều kiện để thuê luật sư. Khi tranh chấp xảy ra, phụ nữ có thể không biết phải làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình, hoặc nếu có, họ phải đối mặt với thủ tục pháp lý kéo dài, phức tạp và tốn kém. Điều này khiến cho việc giải quyết tranh chấp trở nên khó khăn, và nhiều phụ nữ phải chấp nhận thiệt thòi mà không thể bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
Các vấn đề pháp lý mà phụ nữ vùng nông thôn thường gặp phải, như bạo lực gia đình, phân chia tài sản sau ly hôn, quyền sở hữu đất đai, và quyền nuôi con sau ly hôn, tranh chấp họ hụi biêu phường,... đều phản ánh sự thiếu hụt thông tin, kiến thức pháp lý và sự hỗ trợ từ các tổ chức xã hội. Để giải quyết các vấn đề này, cần phải tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức về quyền lợi của phụ nữ, và mở rộng các dịch vụ trợ giúp pháp lý tại các vùng nông thôn. Chỉ khi phụ nữ được bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, họ mới có thể tự tin tham gia vào các hoạt động xã hội và phát triển một cách toàn diện.

2. Phương thức trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ vùng nông thôn

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, trợ giúp pháp lý được xác định là một trong những công cụ quan trọng để bảo vệ quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế trong xã hội. Phụ nữ vùng nông thôn, với đặc thù cuộc sống, thường gặp nhiều khó khăn về kinh tế, xã hội và thiếu hiểu biết về pháp luật, dễ rơi vào tình trạng bị xâm hại quyền lợi mà không biết cách tự bảo vệ. Do đó, trợ giúp pháp lý đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với phụ nữ vùng nông thôn, không chỉ là hàng rào pháp lý bảo vệ quyền lợi của họ mà còn là chỗ dựa tinh thần, là cơ chế hiện thực hóa công bằng xã hội.

2.1. Những ai có thể yêu cầu trợ giúp pháp lý?

Trước hết, cần làm rõ chủ thể nào có quyền yêu cầu trợ giúp pháp lý trong các vụ việc liên quan đến phụ nữ vùng nông thôn. Theo Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, phụ nữ vùng nông thôn hoàn toàn có quyền yêu cầu trợ giúp pháp lý trực tiếp. Tuy nhiên, do thiếu hiểu biết về pháp luật và điều kiện sống hạn chế, việc tự yêu cầu trợ giúp pháp lý của nhiều phụ nữ còn hạn chế. Chính vì vậy, pháp luật còn cho phép người thân như chồng, cha mẹ, anh, chị em, con hoặc người giám hộ đứng ra thay mặt hoặc cùng với họ yêu cầu trợ giúp pháp lý. Quy định này rất phù hợp với thực tiễn, bởi nhiều phụ nữ có thể không biết thủ tục pháp lý hoặc không có khả năng tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý. Sự tham gia của người đại diện hợp pháp giúp đảm bảo rằng quyền lợi của phụ nữ không bị bỏ sót và quá trình trợ giúp pháp lý diễn ra thuận lợi, minh bạch. Ngoài ra, trong một số tình huống đặc biệt, cơ quan, tổ chức như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, thậm chí cơ quan công an khi phát hiện vụ việc cũng có thể giới thiệu, chuyển vụ việc sang Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước để can thiệp kịp thời. Như vậy, cơ chế yêu cầu trợ giúp pháp lý đã được thiết kế linh hoạt, mở rộng, nhằm bao phủ tối đa đối tượng phụ nữ vùng nông thôn cần được bảo vệ.

2.2. Khi nào phụ nữ vùng nông thôn cần đến trợ giúp pháp lý?

Nhu cầu trợ giúp pháp lý của phụ nữ vùng nông thôn thường xuất hiện trong nhiều tình huống cụ thể. Một ví dụ điển hình là khi họ bị bạo hành, xâm hại quyền lợi, bị lừa đảo trong các giao dịch đất đai, tài sản hoặc không được đảm bảo các quyền lợi cơ bản như bảo hiểm, lương hưu. Trong những tình huống này, sự can thiệp của trợ giúp viên pháp lý hoặc luật sư là rất quan trọng để đảm bảo phụ nữ có thể đòi lại quyền lợi chính đáng. Một tình huống khác là khi họ bị ép buộc làm việc trong môi trường nguy hiểm hoặc bị đối xử phân biệt, sự hỗ trợ pháp lý kịp thời là rất cần thiết để bảo vệ họ khỏi những tác động tiêu cực đến sức khỏe, tâm lý và sự phát triển toàn diện. Đặc biệt, khi phụ nữ vùng nông thôn bị bạo hành, xúc phạm nhân phẩm, trợ giúp pháp lý không chỉ bảo vệ quyền lợi về mặt pháp lý mà còn giúp họ vượt qua nỗi sợ hãi và lấy lại quyền tự do, sự tôn trọng.

2.3. Hình thức trợ giúp pháp lý đối với phụ nữ vùng nông thôn?

Trợ giúp pháp lý đối là một chính sách quan trọng và cần thiết nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của phụ nữ nông thôn trong một môi trường pháp lý còn nhiều khó khăn. Ở các vùng nông thôn, phụ nữ thường phải đối mặt với nhiều thách thức lớn như thiếu hiểu biết về quyền lợi của mình, rào cản về tiếp cận các dịch vụ pháp lý, và đôi khi bị phân biệt giới trong việc bảo vệ quyền lợi cá nhân. Vì vậy, trợ giúp pháp lý là một công cụ quan trọng giúp phụ nữ bảo vệ quyền lợi của mình, đặc biệt trong các tình huống xâm phạm quyền lợi hoặc khi có tranh chấp pháp lý. Phụ nữ vùng nông thôn có thể được trợ giúp qua ba hình thức, tương ứng với mức độ của từng vụ việc.
a) Tư vấn pháp lý
Hình thức trợ giúp pháp lý đầu tiên và cũng là cơ bản nhất là tư vấn pháp lý. Đây là giai đoạn mà phụ nữ được giải thích, hướng dẫn về các quyền và nghĩa vụ của mình theo pháp luật, giúp họ nhận thức rõ hơn về những hành vi xâm phạm quyền lợi mà họ có thể gặp phải từ phía các cá nhân hoặc tổ chức. Một trong những vấn đề lớn mà nhiều phụ nữ nông thôn gặp phải là thiếu kiến thức pháp lý cơ bản, dẫn đến việc họ không nhận ra mình có quyền từ chối các yêu cầu lao động không công bằng, hoặc không biết rằng họ có quyền đòi lại quyền lợi hợp pháp khi có tranh chấp tài sản, đất đai.
Ví dụ, nhiều phụ nữ làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp hoặc trong các công ty, xí nghiệp nhưng không biết rằng họ có quyền yêu cầu trả lương công bằng theo quy định của pháp luật. Họ có thể bị lợi dụng bởi các yêu cầu lao động quá mức hoặc không được trả lương đúng hạn, nhưng vì thiếu hiểu biết về quyền lợi của mình, họ đành im lặng chịu đựng. Thông qua tư vấn pháp lý, phụ nữ có thể được giải thích rõ ràng về quyền lợi của mình, như quyền yêu cầu nghỉ ngơi hợp lý, quyền được trả lương đúng hạn, và các quyền lợi khác trong hợp đồng lao động.
Bên cạnh đó, phụ nữ cũng có thể nhận được sự giải thích về các quy định pháp luật liên quan đến quyền sở hữu đất đai, quyền thừa kế tài sản, quyền nuôi con sau ly hôn và các quyền lợi khác. Ví dụ, khi có tranh chấp tài sản giữa vợ chồng trong trường hợp ly hôn, phụ nữ có thể không biết rằng mình có quyền yêu cầu chia tài sản công bằng theo mức độ đóng góp của mỗi bên. Thông qua tư vấn pháp lý, họ sẽ nhận thức rõ hơn về quyền lợi của mình và biết cách bảo vệ quyền lợi của mình khi gặp phải các tình huống tương tự trong tương lai.
b) Đại diện ngoài tố tụng
Khi các mâu thuẫn gia đình hoặc tranh chấp tài sản leo thang và không thể giải quyết bằng tư vấn pháp luật đơn thuần, trợ giúp pháp lý có thể hỗ trợ phụ nữ trong việc đại diện ngoài tố tụng thông qua đại diện phụ nữ gửi các loại các đơn thư, đơn khiếu nại, đơn tố cáo gửi đến cơ quan chức năng có thẩm quyền. Các trợ giúp viên pháp lý hoặc luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý sẽ giúp phụ nữ chuẩn bị các đơn từ, đảm bảo nội dung của đơn chính xác, hợp pháp và có đầy đủ các thông tin cần thiết để cơ quan chức năng có thể giải quyết vụ việc. Việc soạn thảo đơn khiếu nại, tố cáo là một phần quan trọng trong việc đảm bảo quyền lợi của phụ nữ, vì nó giúp họ chuyển vụ việc từ mức độ cá nhân sang việc yêu cầu sự can thiệp chính thức từ các cơ quan chức năng. Đồng thời, trợ giúp viên pháp lý hoặc luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý sẽ đồng hành với người được trợ giúp pháp lý với vai trò là người đại diện trong các buổi làm việc trực tiếp với các cơ quan quản lý nhà nước hoặc các buổi hòa giải, thương lượng, các buổi họp…
Ví dụ, trong các trường hợp liên quan đến bạo lực gia đình, phụ nữ có thể gặp khó khăn trong việc tìm cách bảo vệ mình và con cái khỏi các hành vi bạo lực của người chồng hoặc các thành viên khác trong gia đình. Trợ giúp pháp lý có thể đại diện nạn nhân là phụ nữ soạn thảo đơn khiếu nại gửi đến cơ quan công an để yêu cầu can thiệp. Hình thức này không chỉ giúp bảo vệ phụ nữ khỏi bạo lực gia đình mà còn tạo ra một cơ sở pháp lý để yêu cầu sự bảo vệ từ các cơ quan có thẩm quyền.
c) Tham gia tố tụng
Khi vụ việc trở nên nghiêm trọng và cần được giải quyết qua hệ thống tòa án, trợ giúp pháp lý có thể cử trợ giúp viên hoặc luật sư tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ. Đây là hình thức trợ giúp pháp lý cao cấp nhất, khi các vụ việc đã phát sinh tranh chấp lớn, chẳng hạn như tranh chấp tài sản, quyền nuôi con sau ly hôn hoặc các vụ việc hình sự về hành vi bạo lực gia đình. Trong những vụ việc này, phụ nữ không chỉ cần sự hỗ trợ về tư vấn pháp lý mà còn cần có sự bảo vệ tại tòa án để đảm bảo quyền lợi của mình được bảo vệ một cách chính thức.
Khi tham gia tố tụng, trợ giúp viên hoặc luật sư sẽ đại diện cho phụ nữ tại tòa, giúp họ bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình trước tòa án. Ví dụ, trong một vụ ly hôn có tranh chấp tài sản hoặc quyền nuôi con, luật sư sẽ giúp phụ nữ chứng minh sự đóng góp của mình trong việc xây dựng tài sản chung, đồng thời đưa ra các lập luận pháp lý vững chắc để bảo vệ quyền lợi của họ trong việc phân chia tài sản hoặc quyền nuôi con. Đồng thời, đối với các vụ bạo lực gia đình, luật sư sẽ giúp phụ nữ yêu cầu bảo vệ và cấp các biện pháp phòng ngừa để bảo vệ an toàn cho họ và con cái trước các hành vi bạo lực.
Thông qua trợ giúp pháp lý, phụ nữ không chỉ được bảo vệ quyền lợi trong các vụ việc pháp lý đơn giản mà còn được hỗ trợ trong các vụ việc nghiêm trọng, bảo vệ họ trước các hành vi xâm phạm quyền lợi và giúp họ tìm được sự công bằng trong hệ thống pháp lý.
Tóm lại, trợ giúp pháp lý đối với phụ nữ vùng nông thôn là một công cụ quan trọng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ. Từ tư vấn pháp lý cơ bản cho đến hỗ trợ trong các vụ việc tranh chấp tài sản hoặc bạo lực gia đình, trợ giúp pháp lý không chỉ giúp phụ nữ hiểu rõ quyền lợi của mình mà còn giúp họ thực thi quyền lợi đó một cách hiệu quả. Tuy nhiên, để trợ giúp pháp lý trở nên hiệu quả hơn, cần phải cải thiện sự tiếp cận dịch vụ pháp lý, nâng cao nhận thức về quyền lợi pháp lý cho phụ nữ và đảm bảo rằng các cơ quan chức năng luôn sẵn sàng hỗ trợ phụ nữ trong việc bảo vệ quyền lợi của mình.

2.4. Liên hệ trợ giúp pháp lý ở đâu?

Hiện nay, mạng lưới trợ giúp pháp lý Nhà nước đã được phủ rộng đến tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương với các Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước và chi nhánh tại nhiều khu vực. Người có nhu cầu trợ giúp pháp lý có thể trực tiếp đến các địa chỉ này để được tiếp nhận vụ việc. Danh sách các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý trên địa bàn được công khai tại trụ sở và trên trang web của các Sở Tư pháp trên toàn quốc. Ở cấp cơ sở, các cán bộ cơ sở như trưởng thôn, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng tại xã, thôn (đại diện Mặt trận tổ quốc, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên…) cũng là cầu nối quan trọng, giúp người dân tiếp cận nhanh chóng với dịch vụ trợ giúp pháp lý. Ngoài ra, các đường dây nóng của Bộ Tư pháp (Cục Phổ biến giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý) cũng như các số điện thoại của Sở Tư pháp, Trung tâm trợ giúp pháp lý tại các địa phương cũng là kênh hỗ trợ đáng tin cậy.
Vai trò của trợ giúp pháp lý đối với phụ nữ vùng nông thôn không chỉ dừng lại ở việc giải quyết từng vụ việc cụ thể mà còn mang ý nghĩa dài hạn. Thông qua quá trình tư vấn, hỗ trợ, trợ giúp pháp lý đã góp phần nâng cao nhận thức pháp luật của cộng đồng nông thôn, giúp cha mẹ, người sử dụng lao động hiểu rõ hơn trách nhiệm và giới hạn pháp lý. Đồng thời, sự hiện diện của trợ giúp pháp lý còn tạo hiệu ứng răn đe, khiến các tổ chức, cá nhân có hành vi xâm hại quyền lợi của phụ nữ phải cân nhắc trước khi vi phạm, vì biết rằng họ có thể nhờ pháp luật bảo vệ.
Tuy nhiên, cũng cần thẳng thắn nhìn nhận một số khó khăn, thách thức, như nhiều phụ nữ vùng nông thôn chưa biết đến sự tồn tại của trợ giúp pháp lý hoặc có tâm lý e ngại khi nhờ đến pháp luật. Do đó, cần phải tăng cường truyền thông, phổ biến về trợ giúp pháp lý ngay tại cơ sở, thông qua loa phát thanh xã, trường học và các sinh hoạt cộng đồng để mọi phụ nữ vùng nông thôn đều có thể tiếp cận được dịch vụ này.

IV. MỘT SỐ TÌNH HUỐNG PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO PHỤ NỮ VÙNG NÔNG THÔN

Tình huống 1: Em L, 17 tuổi, là phụ nữ người dân tộc Thái, sống tại một xã vùng cao thuộc diện đặc biệt khó khăn. Trong lúc nghỉ vụ mùa, em L xin làm phụ hồ tại một công trình xây dựng gần nhà. Chủ thầu yêu cầu em L làm việc 12 giờ mỗi ngày, kể cả Chủ nhật, mà không có thời gian nghỉ giữa ca. Em L muốn nghỉ giữa ca để có sức làm việc nhưng lo lắng rằng nếu nghỉ sẽ không được trả công đầy đủ. Gia đình em L lo lắng và không biết liệu trong trường hợp này em có thể tìm đến trợ giúp pháp lý để được tư vấn và bảo vệ quyền lợi hay không?
Trả lời: Trong trường hợp em L là người dân tộc thiểu số cư trú tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn nên em thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí theo khoản 4 Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017. Bên cạnh đó, với tư cách là lao động chưa đủ 18 tuổi, em L được pháp luật lao động bảo vệ đặc biệt. Theo quy định tại Điều 143 và Điều 146 Bộ luật Lao động năm 2019, người chưa đủ 18 tuổi em được làm công việc nhẹ, thời gian làm việc không quá 8 giờ/ngày và 40 giờ/tuần, phải được nghỉ ít nhất 30 phút giữa ca, và không được làm thêm giờ, làm việc ban đêm hoặc làm việc trong môi trường độc hại, nguy hiểm. Do đó, việc chủ thầu yêu cầu làm 12 giờ/ngày, kể cả Chủ nhật, không cho nghỉ giữa ca là hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật lao động.
Gia đình em L có thể đại diện em làm đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý gửi đến Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước hoặc chi nhánh trợ giúp pháp lý, hoặc các tổ chức đăng ký/ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý trên địa bàn huyện.
Hồ sơ yêu cầu trợ giúp pháp lý bao gồm:
- Đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý theo mẫu Thông tư 08/2018/TT-BTP;
- Giấy tờ chứng minh em L thuộc diện được trợ giúp pháp lý: Giấy khai sinh hoặc căn cước công dân, giấy xác nhận cư trú tại xã vùng đặc biệt khó khăn;
Tài liệu liên quan vụ việc, gồm: lời khai của em L, hình ảnh hoặc video thể hiện điều kiện làm việc, ghi chép về số giờ làm, lời khai của nhân chứng…
Hồ sơ có thể được nộp trực tiếp, gửi qua bưu điện hoặc qua email (nếu tổ chức TGPL có hướng dẫn cụ thể). Trong vòng 03 ngày làm việc, tổ chức trợ giúp pháp lý sẽ xem xét và ra quyết định thụ lý, đồng thời cử Trợ giúp viên pháp lý hoặc luật sư bảo vệ quyền lợi cho em L.
Người được phân công trợ giúp pháp lý sẽ làm việc trực tiếp với chủ thầu, yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm, đảm bảo thời giờ làm việc đúng quy định và buộc thanh toán đầy đủ tiền công cho em L. Trường hợp phát hiện dấu hiệu bóc lột sức lao động hoặc cưỡng bức lao động, Trợ giúp viên pháp lý có quyền yêu cầu cơ quan quản lý lao động địa phương hoặc cơ quan công an vào cuộc theo Điều 297 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Việc thực hiện trợ giúp pháp lý không chỉ bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của em L mà còn góp phần ngăn chặn tình trạng lợi dụng lao động trẻ em, lao động nữ dân tộc thiểu số ở vùng nông thôn, nơi nhiều người dễ bị xâm hại quyền lợi do thiếu hiểu biết pháp luật và điều kiện kinh tế khó khăn.
Tình huống 2: Vợ chồng anh C, chị B là gia đình hộ cận nghèo vùng nông thôn, chị B là người khuyết tật. Sau nhiều năm tích cóp, anh chị có 50 triệu đồng gửi tiết kiệm, mang tên anh C. Vì muốn hùn vốn để làm ăn chung với bạn, anh C bàn với vợ rút khoản tiền tiết kiệm trên. Chị B không đồng ý, vì muốn để phòng khi ốm đau. Mặc dù chị B không đồng ý, anh C vẫn tự ý rút số tiền tiết kiệm đó vì cho rằng mình là chủ gia đình nên có toàn quyền quyết định những việc lớn trong gia đình. Chị B muốn hỏi pháp luật quy định về vấn đề này như thế nào và chị có được trợ giúp pháp lý giúp đỡ hay không?
Trả lời: Trong trường hợp này, vấn đề liên quan đến quyền quản lý tài sản chung của vợ chồng và quyền lợi hợp pháp của chị B. Theo Bộ luật Dân sự 2015, tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung, trừ khi có thỏa thuận khác. Trong trường hợp này, tiền tiết kiệm 50 triệu đồng là tài sản chung của vợ chồng anh C và chị B, vì tiền này được tích cóp trong suốt nhiều năm qua và không có thỏa thuận nào cho thấy anh C có quyền độc lập quyết định việc sử dụng tài sản này. Đồng thời, Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan” và Khoản 1 Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập”.
Khoản 1 Điều 35 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận”. Vì vậy, việc anh C tự ý rút số tiền tiết kiệm mà không có sự đồng ý của chị B là hành vi vi phạm quyền lợi hợp pháp của chị B, đặc biệt khi chị B đã thể hiện rõ sự không đồng ý.
Như vậy, theo các quy định trên, vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình. Theo đó, anh C không được tự ý dùng số tiền tiết kiệm chung của vợ chồng để đầu tư kinh doanh, việc sử dụng số tiền tiết kiệm phải được sự đồng ý của cả vợ và chồng.
Chị B có quyền yêu cầu trợ giúp pháp lý để bảo vệ quyền lợi của mình trong trường hợp này. Người khuyết tật thuộc hộ cận nghèo là người thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí theo điểm d khoản 7 Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý 2017 (người khuyết tật có khó khăn về tài chính).
 Chị B có thể làm đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý gửi đến Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước hoặc các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý trên địa bàn.
Giấy tờ cần thiết:
- Giấy khai sinh hoặc căn cước công dân của chị B.
- Giấy xác nhận hộ cận nghèo và giấy xác nhận khuyết tật của chị B.
- Các giấy tờ, tài liệu liên quan đến vụ việc, ví dụ như sổ tiết kiệm , chứng cứ về việc anh C rút tiền mà không có sự đồng ý của chị B.
Sau khi chuẩn bị hồ sơ, chị B có thể nộp trực tiếp tại các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý hoặc qua bưu điện.
Sau khi nhận hồ sơ yêu cầu trợ giúp pháp lý, trong vòng 3 ngày làm việc, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý sẽ xem xét và ra quyết định có thụ lý vụ việc hay không. Nếu thụ lý, Trợ giúp viên pháp lý hoặc luật sư sẽ tư vấn pháp luật, đại diện chị B trong việc làm đơn gửi cơ quan chức năng yêu cầu anh C hoàn trả lại số tiền đã rút, đồng thời đóng vai trò là người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chị trong việc sử dụng tài sản chung nếu có tranh chấp phải ra tòa.
Trong trường hợp này, trợ giúp pháp lý sẽ giúp chị B hiểu rõ quyền của mình và có những bước đi thích hợp để yêu cầu sự can thiệp của pháp luật, bảo vệ tài sản chung của vợ chồng, đảm bảo rằng quyền quyết định tài sản chung không thể chỉ thuộc về một bên mà không có sự đồng ý của bên còn lại.
Như vậy, chị B có quyền yêu cầu trợ giúp pháp lý trong trường hợp này. Trợ giúp pháp lý sẽ giúp chị bảo vệ quyền lợi của mình về tài sản chung và yêu cầu anh C hoàn trả số tiền đã rút trái phép.
Tình huống 3: Chị M, 30 tuổi, là một phụ nữ nông thôn vùng núi, gia đình thuộc hộ nghèo. Chị M kết hôn và sinh con được 8 năm, hiện tại chị đang sống cùng chồng và mẹ chồng. Trong suốt thời gian chung sống, chị M thường xuyên bị chồng và mẹ chồng hành hạ, xúc phạm và có những hành động bạo lực về thể xác và tinh thần. Chị M nhiều lần bị đánh đập và bị mắng chửi, nhất là khi không hoàn thành công việc nhà hoặc có ý kiến trái chiều về việc nuôi dạy con cái. Mặc dù vậy, chị vẫn chịu đựng vì sợ bị xã hội lên án và không có nơi nương tựa. Chị M cảm thấy rất tủi thân và không biết phải làm gì. Chị lo sợ nếu tố cáo sẽ gây thêm mâu thuẫn trong gia đình và có thể bị bạo lực nặng hơn. Tuy nhiên, sau khi nghe một buổi tuyên truyền về quyền phụ nữ và trợ giúp pháp lý trong làng, chị quyết định tìm đến trợ giúp pháp lý để được giúp đỡ. Vậy chị cần làm gì để được hỗ trợ và bảo vệ quyền lợi của mình?
Trả lời: Trong trường hợp của chị M, chị hoàn toàn có quyền yêu cầu trợ giúp pháp lý để bảo vệ quyền lợi của mình. Theo Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022, bạo lực gia đình là hành vi xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, đặc biệt là đối với phụ nữ. Chị M đã bị bạo lực về thể xác và tinh thần trong thời gian dài, và những hành vi này vi phạm nghiêm trọng các quyền lợi cơ bản của chị.
Là người thuộc hộ nghèo, căn cứ khoản 2 Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý 2017, chị M có thể tìm đến Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước hoặc các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý khác để yêu cầu trợ giúp pháp lý miễn phí. Dưới đây là các bước chị M cần thực hiện để được hỗ trợ:
Chị M có thể liên lạc với Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước hoặc liên hệ với các tổ chức chính quyền cũng như các tổ chức xã hội tại địa phương để yêu cầu hướng dẫn làm hồ sơ. Các tổ chức này sẽ hướng dẫn các bước cần làm để bảo vệ quyền lợi của chị.
Chị M cần chuẩn bị một số giấy tờ để yêu cầu trợ giúp pháp lý, bao gồm:
- Đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý theo mẫu quy định (được cung cấp tại các tổ chức trợ giúp pháp lý).
- Giấy tờ chứng minh nhân thân của chị M như Giấy khai sinh, Căn cước công dân (nếu có), giấy tờ chứng minh người thuộc hộ nghèo;
- Tài liệu liên quan đến vụ việc, bằng chứng của bạo lực gia đình: Lời khai của chị M, lời khai của các nhân chứng (nếu có), hình ảnh, video ghi lại hành vi bạo lực, hoặc bất kỳ tài liệu nào có thể làm chứng cho hành vi bạo lực gia đình.
Tổ chức trợ giúp pháp lý sẽ tiếp nhận và xem xét:
Sau khi nhận được hồ sơ yêu cầu trợ giúp pháp lý, tổ chức trợ giúp pháp lý sẽ tiến hành xem xét vụ việc và ra quyết định có thụ lý hay không. Trong vòng 03 ngày làm việc, tổ chức sẽ thông báo kết quả thụ lý và cử Trợ giúp viên pháp lý hoặc luật sư thực hiện việc bảo vệ quyền lợi của chị M.
Trợ giúp viên pháp lý hoặc luật sư sẽ can thiệp và bảo vệ quyền lợi cho chị M:
Sau khi vụ việc được thụ lý, Trợ giúp viên pháp lý sẽ tư vấn hoặc đại diện chị M làm việc với các cơ quan chức năng, như công an và chính quyền địa phương để yêu cầu bảo vệ chị M khỏi các hành vi bạo lực. Nếu cần thiết, họ sẽ giúp chị M lập đơn tố cáo hành vi bạo lực gia đình, yêu cầu cấm hành vi bạo lực và xử lý người vi phạm theo pháp luật. Trợ giúp pháp lý cũng có thể tư vấn cho chị M về các biện pháp bảo vệ an toàn trong thời gian chờ giải quyết vụ việc, như tìm nơi ở tạm thời, bảo vệ tính mạng và sức khỏe của chị và con cái. Đồng thời, nếu có dấu hiệu bạo lực nghiêm  trọng, tổ chức trợ giúp pháp lý có thể phối hợp với cơ quan công an để can thiệp khẩn cấp và tham gia tố tụng bảo vệ chị trong quá trình tố tụng vụ án hình sự.
Chị M có quyền yêu cầu trợ giúp pháp lý và có thể tìm đến các cơ quan hoặc tổ chức trợ giúp pháp lý miễn phí tại địa phương. Việc làm này không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân của chị mà còn góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về bạo lực gia đình và quyền lợi của phụ nữ vùng nông thôn.
Tình huống 4: Em H, 15 tuổi, là một bé gái sống ở vùng nông thôn miền núi. Em H đang học lớp 9 tại trường trung học cơ sở trong xã và hiện sống cùng bố, mẹ kế và em trai cùng cha khác mẹ. Từ khi bố em tái hôn đến nay đã 5 năm, em H thường xuyên bị bố và mẹ kế la mắng, chửi bới và đánh đập với lý do “không biết làm việc nhà”, “học hành chểnh mảng” hoặc “cãi lời người lớn”. Nhiều lần, mẹ kế còn khóa cửa, không cho em ăn cơm, nhốt em tại chuồng bò đến khuya. Em H luôn sống trong sợ hãi, hay khóc một mình và kết quả học tập giảm sút. Cô giáo chủ nhiệm sau khi biết được tình trạng của em H rất muốn giúp nhưng băn khoăn không biết nếu liên hệ với trợ giúp pháp lý thì có được bảo vệ hay không, liệu em H chưa đủ tuổi thì bố mẹ có thể can thiệp khi em tìm đến trợ giúp pháp lý hay không?
Trả lời: Trong trường hợp này, em H là trẻ em (người dưới 16 tuổi) nên em hoàn toàn có quyền được bảo vệ và yêu cầu trợ giúp pháp lý khi bị bạo hành theo khoản 3 Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý 2017. Theo Luật Trẻ em năm 2016, trẻ em có quyền được sống an toàn, được bảo vệ về thân thể, nhân phẩm, danh dự và được bảo vệ khỏi mọi hình thức bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc, ngược đãi, hành hạ, xâm hại; đồng thời có quyền được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng và được cơ quan, tổ chức, cá nhân lắng nghe, xem xét ý kiến đó trong các vấn đề liên quan đến mình.
Hành vi bố và mẹ kế thường xuyên la mắng, chửi bới, đánh đập, bỏ đói, khóa cửa không cho ăn, bắt nhốt vào chuồng bò đến khuya đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của em, thuộc các hành vi bạo lực gia đình bị nghiêm cấm theo Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 và tội phạm hình sự theo Bộ luật hình sự 2015 (Theo khoản 2 Điều 185 Bộ luật Hình sự 2015 về Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình).
Như vậy, dù em H còn nhỏ tuổi, em vẫn có quyền được Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước hoặc tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý hỗ trợ tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng, tham gia tố tụng bảo vệ quyền lợi hợp pháp trước tòa mà không phải trả chi phí. Việc em H chưa thành niên không phải là lý do để bố mẹ có thể cản trở hoặc phủ nhận quyền được trợ giúp pháp lý của em, nhất là trong trường hợp chính bố/mẹ kế là người có hành vi bạo lực.
Căn cứ khoản 2 Điều 8 Luật Trợ giúp pháp lý 2017, em H có thể tự mình yêu cầu trợ giúp pháp lý hoặc thông qua cá nhân, tổ chức khác (cô chủ nhiệm, nhà trường, họ hàng thân thích,...) mà không cần thông qua bố mẹ. Sau khi lắng nghe và ghi nhận thông tin ban đầu, cô giáo và nhà trường có thể hỗ trợ em H liên hệ với Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước hoặc các tổ chức trợ giúp pháp lý khác, sau đó họ sẽ ra quyết định cử Trợ giúp viên pháp lý hoặc luật sư tham gia vụ việc. Người thực hiện trợ giúp pháp lý sẽ tư vấn cho em H, cô giáo và nhà trường về quyền của em theo Luật Trẻ em, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Trợ giúp pháp lý; hướng dẫn soạn thảo các đơn từ cần thiết như đơn đề nghị trợ giúp pháp lý, đơn đề nghị can thiệp bảo vệ trẻ em, đơn tố giác hành vi bạo lực gia đình gửi cơ quan công an, Ủy ban nhân dân xã, cơ quan bảo vệ trẻ em,... Trong trường hợp cấu thành vụ việc hình sự, người thực hiện trợ giúp pháp lý sẽ bảo vệ em H trước tòa.
Tình huống 5: Chị L, 50 tuổi, thuộc hộ cận nghèo, là con gái lớn trong một gia đình nông thôn, nhà có hai chị em: chị L và anh T (con trai út). Bố chị là liệt sĩ, mẹ làm nông, có một mảnh đất và căn nhà do mẹ chị L đứng tên. Mẹ mất không để lại di chúc. Sau đám tang, họ hàng bên nội họp gia đình để bàn chuyện chia tài sản. Ông bác cả và một số người trong họ cho rằng theo “lệ làng” thì đất đai, nhà cửa chỉ để lại cho con trai, con gái đi lấy chồng là “người ngoài”, không được chia thừa kế. Anh T cũng đồng ý, nói rằng anh là con trai, ở cùng mẹ, lo hương khói nên toàn bộ nhà đất phải thuộc về anh, chị L không được đòi hỏi. Chị L cho rằng mình là con ruột, có quyền được hưởng một phần di sản, nhưng lại lo ngại bị mang tiếng “tranh giành với em trai” và không biết pháp luật quy định thế nào. Sau khi nghe buổi tuyên truyền pháp luật về bình đẳng giới và trợ giúp pháp lý tại xã, chị băn khoăn không biết muốn bảo vệ quyền lợi thì chị cần làm gì, có thể nhờ trợ giúp pháp lý hay không.?
Trả lời: Trong trường hợp của chị L, việc họ hàng và em trai viện dẫn phong tục “con gái không được hưởng thừa kế” để loại chị khỏi việc chia di sản là trái với quy định của pháp luật hiện hành. Theo Bộ luật Dân sự, khi bố mẹ chết không để lại di chúc thì di sản được chia theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, bao gồm: vợ, chồng, cha, mẹ, con (không phân biệt con trai, con gái, con đã lập gia đình hay chưa). Như vậy, chị L, em gái H và anh T đều là con ruột của bố mẹ, nên cùng hàng thừa kế, có quyền ngang nhau đối với phần di sản của mẹ để lại; không có quy định nào cho phép tước quyền thừa kế của con gái chỉ vì “đi lấy chồng”. Bên cạnh đó, pháp luật về bình đẳng giới cũng khẳng định nam và nữ bình đẳng trong việc sở hữu tài sản, thừa kế tài sản, không được phân biệt đối xử vì lý do giới tính. Do đó, lập luận “đất chỉ cho con trai” chỉ là tập quán, không thể làm căn cứ để phủ nhận quyền thừa kế hợp pháp của chị L nếu trái luật.
Theo Luật Trợ giúp pháp lý, chị L thuộc diện được trợ giúp pháp lý miễn phí theo điểm a Khoản 7 Điều 7 nên chị có thể được tư vấn, đại diện ngoài tố tụng tham gia tố tụng bảo vệ quyền lợi trước tòa mà không phải trả chi phí gì.
Là người thừa kế nhưng bị xâm phạm quyền lợi, chị L có quyền trước hết yêu cầu gia đình, họ hàng tôn trọng quy định pháp luật, thương lượng lại việc chia di sản theo đúng nguyên tắc: những người cùng hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Nếu thương lượng không được, chị có thể nhờ Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước hoặc tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý tư vấn, hỗ trợ soạn đơn, thu thập giấy tờ liên quan (giấy chứng tử của bố mẹ, giấy tờ về quyền sử dụng đất/nhà ở đứng tên mẹ, giấy tờ chứng minh quan hệ mẹ con, các biên bản họp gia đình nếu có) và đại diện hoặc bảo vệ quyền lợi của mình trong quá trình làm việc với chính quyền địa phương hoặc tại tòa án khi khởi kiện tranh chấp thừa kế.

Phạm Thị Việt Hà
Cục Phổ biến, gián dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý

 
 
 
 
 
 
 

Xem thêm »