Công tác trợ giúp pháp lý cho người dân các tỉnh biên giới Việt Nam –Campuchia: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả
20/05/2026
Sau ngày 01/7/2025, Việt Nam có 8 tỉnh có chung đường biên giới với Campuchia bao gồm An Giang, Đắk Lắk, Đồng Nai, Đồng Tháp, Gia Lai, Lâm Đồng, Quảng Ngãi, Tây Ninh với chiều dài biên giới khoảng hơn 1000 km. Đây là nơi có vị trí địa lý phức tạp và địa bàn chiến lược quan trọng, nơi sinh sống chủ yếu của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và người Khmer với nhiều đặc thù về phong tục tập quán, văn hóa nhưng đời sống kinh tế- xã hội còn nhiều khó khăn, các rào cản về địa lý và dân trí đã phần nào hạn chế khả năng tiếp cận pháp luật của người dân tại nơi đây. Chính vì vậy, công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) không chỉ đơn thuần là một nhiệm vụ chuyên môn, mà còn là cầu nối đưa pháp luật đến gần hơn với người dân, giúp mang niềm tin và công lý đến với các nhóm yếu thế, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân, giữ gìn an ninh trật tự và tăng cường quan hệ hữu nghị Việt Nam – Campuchia.
1. Tình hình thực hiện TGPL cho người dân các tỉnh vùng biên giới Việt Nam- Campuchia
Ở Trung ương, Cục PB&TG đã tăng cường tổ chức triển khai các hoạt động truyền thông về TGPL với các phương thức và nội dung đa dạng; chủ động tiếp cận người dân để tìm hiểu nhu cầu TGPL, các nội dung truyền thông đa dạng về nội dung và hình thức (báo hình, báo viết, báo nói, tờ gấp, diễn án vụ việc thành công…).Một số chương trình về TGPL cho các đối tượng yếu thế như người dân tộc thiểu số, trẻ em, người khuyết tật…, các phóng sự về vụ việc TGPL thành công cho trẻ em, người nghèo, phụ nữ… trong đó có nạn nhân bị mua bán trên các kênh truyền hình nhiều người theo dõi như Đài truyền hình Việt Nam; Truyền hình thông tấn VNews,… phủ sóng tới 34 tỉnh, thành phố trên cả nước; thực hiện phỏng vấn trên truyền hình về công tác TGPL, đôn đốc địa phương tăng cường phối hợp thực hiện truyền thông về TGPL.
Ở địa phương, Cục PB&TG đã định hướng đa dạng hóa và đổi mới các phương thức truyền thông về TGPL phù hợp với từng đặc thù địa bàn, trình độ dân trí của người dân, đặc biệt là phù hợp với nhóm người dân tộc thiểu số như công bố danh sách đội ngũ người thực hiện TGPL trên Cổng Thông tin điện tử của Sở Tư pháp, Trang thông tin điện tử của Trung tâm và niêm yết công khai tại trụ sở các cơ quan tiến hành tố tụng; lắp đặt Bảng thông tin về TGPL, Hộp tin, mẫu đơn yêu cầu TGPL đặt tại các cơ quan tiến hành tố tụng, Trại tạm giam, UBND cấp xã; phối hợp với Đài truyền hình – Đài phát thanh tỉnh thực hiện các chuyên mục tìm hiểu pháp luật, tư vấn pháp luật có liên quan đến chế độ chính sách đối với người nghèo, người yếu thế, người sống ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi; biên soạn, in ấn cấp phát tờ rơi, tờ gấp về TGPL, tài liệu pháp luật phát miễn phí nhằm giúp người dân, đặc biệt là những đối tượng “dễ bị tổn thương” tại các vùng dân tộc thiểu số và miền núi biết và được TGPL miễn phí. Thông qua việc tổ chức các đợt truyền thông hướng đến các cán bộ ở cơ sở (trưởng thôn, cán bộ Hội phụ nữ, Hội nông dân, cán bộ tư pháp - hộ tịch, người có uy tín trong cộng đồng,…) tại các tỉnh có chung đường biên giới với Campuchia sẽ giúp họ có những thông tin cơ bản về TGPL để từ đó làm cầu nối giữa người dân và TGPL, nắm bắt được nhu cầu TGPL của người dân và chủ động hướng dẫn người dân tìm đến Trung tâm TGPL nhà nước khi có tranh chấp, vướng mắc pháp luật.
Để nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL, Cục PB&TG và các địa phương ngày càng chú trọng công tác nâng cao năng lực cho người thực hiện TGPL, Cục đã phối hợp với các Trung tâm TGPL nhà nước tại 8 tỉnh có vùng biên giới với Campuchia đã tổ chức tập huấn chuyên sâu cho người thực hiện TGPL và các cơ quan có liên quan như cơ quan tiến hành tố tụng, hội phụ nữ, hội nông dân, hội cựu chiến binh… ở địa phương, chủ động xây dựng tài liệu tập huấn, nâng cao năng lực, kiến thức, hiểu biết về TGPL cho những người có uy tín trong cộng đồng và đội ngũ cán bộ ở cơ sở (công an xã, công chức tư pháp hộ tịch,...), tổ chức, đoàn thể của cấp xã để họ làm cầu nối giữa người dân và TGPL, kịp thời giải thích cho gười dân về quyền được TGPL, hướng dẫn người thuộc diện TGPL liên hệ với tổ chức thực hiện TGPL/người thực hiện TGPL tại địa phương.
2. Kết quả thực hiện vụ việc TGPL
2.1. Thực hiện TGPL cho người Việt Nam thuộc diện được TGPL tại các tỉnh vùng biên giới Việt Nam – Campuchia
Từ 01/01/2020 đến 31/12/2025, các tổ chức thực hiện TGPL tại các tỉnh giáp biên giới với Campuchia đã thụ lý 23.798 vụ việc TGPL (trong đó có người nghèo; người dân tộc thiểu số; người vừa là người nghèo vừa là người dân tộc thiểu số; người có công với cách mạng; trẻ em, người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nhóm người có khó khăn về tài chính theo quy định của Luật TGPL). Để bảo đảm cho người dân vùng biên giới được tiếp cận thông tin về TGPL và thụ hưởng quyền khi có nhu cầu, công tác phối hợp giữa Trung tâm TGPL và các cơ quan liên quan được các địa phương hết sức quan tâm và luôn tìm giải pháp nâng cao hiệu quả phối hợp, đặc biệt là công tác phối hợp TGPL trong hoạt động tố tụng theo quy định.
Hầu hết các vụ việc được thẩm định, đánh giá đều đạt chất lượng trở lên. Các Trung tâm thuộc các tỉnh vùng biên giới đã thực hiện được nhiều vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công, chẳng hạn như có vụ án được tuyên mức án nhẹ hơn hoặc chuyển tội danh hay thay đổi khung hình phạt thấp hơn so với mức đề nghị trong cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân; nhiều vụ thắng kiện, bị hại được bồi thường thiệt hại theo quy định, qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL. Tất cả các địa phương vùng biên giới có huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn nơi có người dân tộc thiểu số cư trú đã thiết lập đường dây nóng về TGPL, đã có nhiều lượt người dân gọi đến để phản ánh những khó khăn, vướng mắc về pháp luật phát sinh trong cuộc sống, tạo điều kiện thuận lợi cho “nhóm người yếu thế” nhanh chóng tiếp cận và yêu cầu TGPL miễn phí, tiết kiệm được thời gian, công sức, chi phí cho họ. Cục PB&TG đã kịp thời nắm bắt và chỉ đạo các Trung tâm trợ giúp pháp lý khẩn trương thực hiện những vụ việc được dư luận xã hội quan tâm; các Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước chủ động tiếp cận người thuộc diện được trợ giúp pháp lý qua nhiều kênh khác nhau: người yêu cầu TGPL, cơ quan tố tụng, các cơ quan có kiên quan và các phương tiện thông tin đại chúng như đài truyền hình, đài phát thanh, báo điện tử …
2.2. Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người Campuchia thuộc diện được trợ giúp pháp lý
Nội dung tương trợ về TGPL được ghi nhận tại Hiệp định tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự giữa Việt Nam và Campuchia ký ngày 21/01/2013, có hiệu lực kể từ ngày 09/10/2014 có quy định như sau:
“1. Công dân của mỗi Bên có quyền được miễn, giảm án phí và được TGPL miễn phí trên lãnh thổ của Bên kia theo cùng những điều kiện và mức độ như công dân của Bên kia.
2. Nếu việc miễn, giảm án phí hoặc TGPL miễn phí được quyết định căn cứ vào mức thu nhập hoặc/và tình trạng tài sản của người làm đơn, thì giấy xác nhận mức thu nhập hoặc/và tình trạng tài sản của người làm đơn sẽ do cơ quan có thẩm quyền của Bên nơi người làm đơn thường trú hoặc tạm trú cấp.
3. Công dân của một Bên có thể xin miễn, giảm án phí hoặc TGPL miễn phí theo quy định tại khoản 1 Điều này tới cơ quan có thẩm quyền của Bên nơi người làm đơn thường trú hoặc tạm trú. Cơ quan có thẩm quyền đó sẽ chuyển đơn kèm giấy xác nhận mức thu nhập hoặc/và tình trạng tài sản theo quy định tại khoản 2 của Điều này tới cơ quan có thẩm quyền của Bên kia thông qua các Cơ quan Trung ương.
4. Cơ quan có thẩm quyền quyết định việc miễn, giảm án phí và TGPL miễn phí có thể yêu cầu người nộp đơn bổ sung thêm thông tin.”
Như vậy, công dân Campuchia có quyền được TGPL với cùng điều kiện và mức độ như công dân Việt Nam. Chẳng hạn, để được TGPL tại Việt Nam, người dân Campuchia cần được cơ quan có thẩm quyền tại Campuchia xác nhận hoặc cấp giấy chứng nhận là người thuộc hộ nghèo; người khuyết tật, người cao tuổi, người nhiễm HIV, nạn nhân của hành vi mua bán người,… có khó khăn về tài chính; vụ việc TGPL xảy ra tại Việt Nam phải liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thuộc diện được TGPL và không thuộc lĩnh vực kinh doanh, thương mại...Như vậy, theo quy định thì khi công dân Campuchia thuộc diện được TGPL yêu cầu TGPL tại Việt Nam đều được các Trung tâm TGPL nhà nước của Việt Nam thụ lý và cung cấp dịch vụ TGPL.
Mặt khác, trong các chuyến làm việc của đoàn công tác của Bộ Tư pháp 02 nước, Cục PB&TG đã tích cực, chủ động chia sẻ những kinh nghiệm của Việt Nam trong xây dựng thể chế về trợ giúp pháp lý, việc tổ chức thực hiện TGPL cho các đối tượng đặc thù, việc tổ chức các hoạt động TGPL tại cộng đồng, phát triển đội ngũ người thực hiện TGPL và tăng cường phối hợp liên ngành trong TGPL,…
3. Thuận lợi, khó khăn
3.1. Thuận lợi
Ngày 23/4/2026, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội thông qua trong đó bổ sung quy định: “Người nước ngoài theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định được trợ giúp pháp lý”, điều này bảo đảm đồng bộ, thống nhất trong việc cung cấp dịch vụ TGPL cho công dân Campuchia.” Quy định này không chỉ nội luật hóa cam kết của Việt Nam trong tại Điều 3 Hiệp định tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự mà còn tạo thuận lợi cho việc triển khai thực hiện TGPL cho người nước ngoài, trong đó có người Campuchia. Trong quá trình quản lý và tại các diễn đàn trao đổi về nghiệp vụ, nếu có vướng mắc phát sinh đến TGPL cho người nước ngoài (trong đó có người mang quốc tịch Campuchia) Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý đều hướng dẫn cụ thể cho địa phương, theo nguyên tắc: ưu tiên áp dụng quy định về TGPL tại Hiệp định.
Công tác TGPL tại các địa phương có chung đường biên giới với Campuchia luôn được sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương, Sở Tư pháp; sự hướng dẫn chỉ đạo về chuyên môn của Bộ Tư pháp, CụcPB&TG; sự phối hợp chặt chẽ của chính quyền cấp cơ sở và sự hưởng ứng của nhân dân. Công tác phối hợp giữa Trung tâm TGPL nhà nước và các cơ quan có liên quan, trong đó có cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truyền thông về TGPL, giới thiệu đối tượng đến Trung tâm TGPL nhà nước được các địa phương quan tâm hơn, đặc biệt từ khi thực hiện Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 29/6/2018 được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư liên tịch số 29/2025/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 31/12/2025 quy định về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng.
Công tác truyền thông được tăng cường thực hiện tại cơ sở, đặc biệt, nội dung TGPL đã được đưa vào các Chương trình mục tiêu quốc gia: Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, giai đoạn I từ năm 2021 đến năm 2025; Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo và an sinh xã hội bền vững giai đoạn 2021 – 2025; Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025; Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: từ năm 2026 đến năm 2030; Chương trình mục tiêu quốc gia về phòng, chống ma túy đến năm 2030. Trên cơ sở đó, Bộ Tư pháp đã ban hành các văn bản gửi các địa phương hướng dẫn thực hiện TGPL tại 03 Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 – 2025. Các Chương trình này đều có các hoạt động yêu cầu tăng cường, nâng cao khả năng tiếp cận và thụ hưởng hoạt động TGPL; nâng cao năng lực đội ngũ người thực hiện TGPL để cung cấp dịch vụ có chất lượng. Chương trình mục tiêu quốc gia về phòng, chống ma tuý có hỗ trợ kinh phí vụ việc phức tạp, điển hình liên quan đến ma tuý cho một số địa phương.
Ngày 19/5/2022, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp đã ký ban hành Chương trình phối hợp số 1603/CTPH-BTP-TANDTC giữa Bộ Tư pháp và Tòa án nhân dân tối cao về người thực hiện trợ giúp pháp lý trực tại Tòa án nhân dân để chính thức áp dụng chung cho 34 tỉnh, thành phố toàn quốc. Các tỉnh có chung đường biên giới với Campuchia đã triển khai thực hiện trực qua điện thoại phù hợp với điều kiện thực tế tại từng địa phương.
Đội ngũ người thực hiện TGPL, đặc biệt là Trợ giúp viên pháp lý và luật sư tham gia TGPL có trình độ, năng lực chuyên môn, thường xuyên học tập, không ngừng nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu TGPL ở địa phương. Việc thụ lý và giải quyết các vụ, việc được đảm bảo về tiến độ, chất lượng, không gây khó khăn, phiền hà cho nhân dân, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đối tượng được TGPL, không có trường hợp khiếu nại, tố cáo nào liên quan đến chất lượng vụ việc TGPL.
3.2 Khó khăn
Xã giáp biên giới Campuchia nằm ở vùng sâu, vùng xa, giao thông đi lại còn khó khăn nên ảnh hưởng đến việc người dân tiếp cận với tổ chức thực hiện TGPL.
Do địa bàn một số xã biên giới rộng, đường xá đi lại khó khăn, người dân không ổn định về nơi cư trú, nhiều người đi làm ăn xa nên việc mời người dân đến truyền thông về TGPL chưa được đông đủ. Cuộc sống của người dân còn nhiều khó khăn, họ quan tâm nhiều hơn đến vấn đề mưu sinh nên chưa quan tâm đến việc tìm hiểu pháp luật nói chung và TGPL nói riêng.
Nhận thức về TGPL của một bộ phận người dân thuộc diện được TGPL ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế, chưa biết đến hoạt động TGPL hoặc chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của TGPL trong bảo vệ quyền con người, quyền công dân và góp phần thực hiện an sinh xã hội, chỉ khi có tranh chấp phát sinh và được giải thích rõ ràng về những lợi ích khi được TGPL thì họ mới tìm hiểu và đề nghị được TGPL. Một số nơi, trình độ dân trí chưa cao và chưa đồng đều, người được TGPL đa phần là người dân tộc thiểu số, gặp nhiều khó khăn trong việc giao tiếp do không thành thạo tiếng phổ thông nên càng e ngại khi tiếp xúc với các cơ quan, tố chức có liên quan, trong đó có tổ chức thực hiện TGPL. Ngoài ra, một số nhóm người dân tộc thiểu số còn áp dụng các phong tục tập quán lạc hậu trong giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn, vướng mắc nên khó khăn cho việc tiếp cận, giải thích, vận động người dân hiểu và chấp hành pháp luật. Việc truyền thông về Hiệp định, trong đó có quyền được TGPL của công dân hai nước có lúc, có nơi chưa được thường xuyên, đầy đủ, kịp thời.
Số lượng người thực hiện TGPL trong đó có Trợ giúp viên pháp lý - lực lượng thực hiện TGPL chính ở một số địa bàn còn mỏng, đa số không biết tiếng Khơ-me nên việc triển khai công tác TGPL còn gặp khó khăn.
Gần đây, một số vụ việc người Việt bị mua bán sang Campuchia gây sự quan tâm, chú ý của các cơ quan, tổ chức có liên quan và xã hội. Vì vậy, cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ của các cơ quan có liên quan của cả hai bên Việt Nam và Campuchia để kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị mua bán qua biên giới hai nước.
4. Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác trợ giúp pháp lý cho người dân ở vùng biên giới Việt Nam – Campuchia trong thời gian tới
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý (có hiệu lực từ ngày 01/01/2027) đã mở rộng diện người được TGPL, dự kiến số vụ việc sẽ tăng lên nhiều đặt ra yêu cầu phải chuẩn bị kỹ lưỡng các điều kiện, nguồn lực con người và tài chính cần thiết để bảo đảm TGPL kịp thời, có chất lượng cho người dân. Thêm vào đó, cần tăng cường truyền thông về quy định của Hiệp định và quy định mới của Luật sửa đổi đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý, nâng cao nhận thức của người dân, cơ quan, tổ chức cá nhân có thẩm quyền của cả hai nước cũng như bảo đảm việc tổ chức thi hành Luật trên thực tế được đồng bộ, thống nhất và hiệu quả, tránh bỏ sót yêu cầu TGPL. Để đáp ứng được yêu cầu này, các tổ chức thực hiện TGPL của 2 nước phải được tăng cường cả về số lượng và chất lượng; được đầu tư thêm về trang thiết bị cần thiết cho hoạt động TGPL, người thực hiện TGPL phải nâng cao trình độ, kỹ năng để cung cấp dịch vụ có chất lượng; Sở Tư pháp phải chuẩn bị đủ nguồn lực để tăng cường các biện pháp quản lý và tổ chức thực hiện nhiệm vụ TGPL ở địa phương. Cụ thể:
- Cơ quan Trung ương của 2 nước, chính quyền các tỉnh có chung đường biên giới và đặc biệt là các Trung tâm TGPL nhà nước cần đẩy mạnh truyền thông với các phương thức đa dạng, trực quan, sinh động (sử dụng hình ảnh, thiết kế câu hỏi đáp đơn giản, thiết lập tổng đài giải đáp TGPL,…) để nâng cao nhận thức của người dân cả hai nước về quyền được TGPL theo quy định của Hiệp định nói chung, pháp luật về TGPL nói riêng.
- Tăng cường năng lực cho đội ngũ người thực hiện TGPL của cả hai nước trong việc cung cấp dịch vụ TGPL thông qua các lớp tập huấn, các hội thảo, hội nghị chuyên sâu về TGPL của mỗi bên và cả hai nước. Bồi dưỡng tiếng Campuchia, tiếng dân tộc (đối với phía Việt Nam là các tiếng Khơ - me, Gia Rai, H’Lăng…) cho đội ngũ trợ giúp viên pháp lý, người thực hiện TGPL hoặc thuê cộng tác viên biết tiếng Campuchia để triển khai thực hiện các hoạt động TGPL cho người dân khu vực biên giới Campuchia; triển khai có hiệu quả Chương trình phối hợp về người thực hiện trợ giúp pháp lý trực tại Tòa án, Chương trình phối hợp trực trợ giúp pháp lý trong điều tra hình sự.
- Xây dựng và phát huy mạng lưới cán bộ ở cơ sở như trưởng thôn, người có uy tín trong cộng đồng nhằm kịp thời phát hiện, thông báo, thông tin về vụ việc TGPL, người thuộc diện TGPL, đặc biệt cho nạn nhân bị bạo lực, bị mua bán ở vùng biên giới Việt Nam - Campuchia cho cơ quan có thẩm quyền của hai nước.
- Tăng cường hợp tác trao đổi kinh nghiệm về TGPL giữa hai nước Việt Nam và Campuchia, kịp thời chia sẻ những khó khăn, vướng mắc khi có vụ việc TGPL giữa hai nước cũng như với các nước khác láng giềng trong khu vực ASEAN và có những đề xuất, kiến nghị bảo đảm việc thực hiện quyền cơ bản của công dân theo đúng Hiệp định tương trợ tư pháp giữa hai nước.
Lại Nhật Quang
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý