Bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý trong Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú số 128/2025/QH15
21/05/2026
Ngày 10/12/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú số 128/2025/QH15 (Có hiệu lực từ ngày 01/7/2026). Luật có nhiều điểm mới quan trọng nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong quá trình áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự. Trong đó, việc tiếp tục khẳng định và tăng cường bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của người bị tạm giữ, người bị tạm giam là một trong những nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân[1], quyền tiếp cận công lý, quyền bào chữa[2] theo Hiến pháp năm 2013.
Trong đó, việc tiếp tục khẳng định và tăng cường bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của người bị tạm giữ, người bị tạm giam là một trong những nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân[1], quyền tiếp cận công lý, quyền bào chữa[2] theo Hiến pháp năm 2013.
Khẳng định rõ quyền được trợ giúp pháp lý của người bị tạm giữ, người bị tạm giam
Trợ giúp pháp lý là chính sách mang tính nhân văn sâu sắc của Nhà nước nhằm bảo đảm những người thuộc diện được trợ giúp pháp lý có cơ hội tiếp cận và sử dụng các dịch vụ pháp lý miễn phí, từ đó bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam, đây là nhóm đối tượng đang bị hạn chế một số quyền tự do nhất định, thường gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận thông tin pháp luật, liên hệ với người bào chữa hoặc tự bảo vệ quyền lợi của mình. Vì vậy, việc bảo đảm họ được tiếp cận trợ giúp pháp lý ngay từ giai đoạn đầu của quá trình tố tụng có ý nghĩa rất lớn trong việc phòng ngừa oan, sai, bảo đảm tính khách quan, công bằng của hoạt động điều tra, truy tố, xét xử.
Một trong những điểm đáng chú ý của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú năm 2025 là tiếp tục ghi nhận quyền được trợ giúp pháp lý như một quyền cơ bản của người bị tạm giữ, người bị tạm giam. Theo khoản 1 Điều 17 của Luật, người bị tạm giữ, người bị tạm giam được “hướng dẫn, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa, được trợ giúp pháp lý”. Quy định này thể hiện rõ trách nhiệm của các cơ sở giam giữ và các cơ quan có liên quan trong việc không chỉ thừa nhận mà còn phải chủ động tạo điều kiện để người bị tạm giữ, người bị tạm giam thực hiện quyền được trợ giúp pháp lý của mình. So với cách tiếp cận chỉ dừng lại ở việc ghi nhận quyền của người bị buộc tội trong các văn bản tố tụng, Luật đã nhấn mạnh thêm yêu cầu “hướng dẫn”, “giải thích” và “bảo đảm thực hiện”, qua đó đề cao trách nhiệm của các chủ thể quản lý giam giữ trong việc hỗ trợ người dân tiếp cận các dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí.
Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở quyền được trợ giúp pháp lý
Để bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý được thực hiện trên thực tế, Luật đã quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm trong quá trình quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam. Khoản 4 Điều 7 Luật đã quy định nghiêm cấm hành vi “cản trở người bị tạm giữ, người bị tạm giam thực hiện quyền thăm gặp người thân thích, quyền bào chữa, được trợ giúp pháp lý, tiếp xúc lãnh sự, khiếu nại, tố cáo, quyền con người, quyền và nghĩa vụ khác của công dân theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan”. Đây là một quy định có ý nghĩa rất quan trọng bởi trong thực tiễn, việc tiếp cận người bị tạm giữ, người bị tạm giam là điều kiện tiên quyết để người thực hiện trợ giúp pháp lý có thể tư vấn, hướng dẫn, tham gia bào chữa hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ. Việc đưa hành vi cản trở quyền được trợ giúp pháp lý vào nhóm hành vi bị nghiêm cấm cho thấy Nhà nước đặc biệt coi trọng việc bảo đảm khả năng tiếp cận công lý của người bị tạm giữ, người bị tạm giam và tăng cường cơ sở pháp lý để xử lý các trường hợp vi phạm.
Bảo đảm tiếp cận người bào chữa và người thực hiện trợ giúp pháp lý
Một trong những điều kiện quan trọng để trợ giúp pháp lý được triển khai hiệu quả là tạo điều kiện cho người thực hiện trợ giúp pháp lý gặp gỡ, trao đổi với người bị tạm giữ, người bị tạm giam. Điểm d khoản 1 Điều 17 Luật quy định người bị tạm giữ, người bị tạm giam có quyền “được gặp người thân thích, người bào chữa,…”. Đồng thời, khoản 3 Điều 22 của Luật quy định người bào chữa được gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam để thực hiện hoạt động bào chữa theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật này tại cơ sở giam giữ hoặc nơi người bị tạm giữ, người bị tạm giam đang khám bệnh, chữa bệnh. Đối với các trường hợp người thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý, các quy định này là cơ sở pháp lý quan trọng để trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý tiếp cận người thuộc diện trợ giúp pháp lý, thu thập thông tin, nghiên cứu hồ sơ và thực hiện các hoạt động nghiệp vụ cần thiết.
Có thể thấy rằng, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 được sửa đổi, bổ sung năm 2026 là cơ sở quan trọng ghi nhận quyền được trợ giúp pháp lý miễn phí của các nhóm đối tượng cụ thể, tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai các hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam. Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật chuyên ngành có liên quan đã tạo hành lang pháp lý đồng bộ hơn và có cơ chế thực hiện trợ giúp pháp lý cụ thể, trong đó Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú năm 2025 đã tạo hành lang pháp lý quan trọng để các quy định của Luật Trợ giúp pháp lý và Bộ luật Tố tụng hình sự được thực hiện hiệu quả trong thực tế. Theo đó, quyền được trợ giúp pháp lý được đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với các quyền tố tụng cơ bản khác như quyền tự bào chữa, quyền nhờ người bào chữa, quyền khiếu nại, tố cáo, quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và các quyền công dân khác không bị hạn chế bởi pháp luật. Luật đã góp phần hoàn thiện cơ chế bảo vệ người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo hướng nhân văn, tiến bộ và phù hợp với các chuẩn mực pháp lý hiện đại. Việc triển khai hiệu quả các quy định này sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự, bảo đảm mọi người dân, đặc biệt là những người yếu thế, đều có cơ hội tiếp cận công lý bình đẳng, qua đó củng cố niềm tin của Nhân dân đối với hệ thống tư pháp và pháp luật của Nhà nước.
Nguyễn Phan Thuỳ Linh
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý
[1] Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định:
“1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.
2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.”
[2] Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định:
“1. Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
2. Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai. Trường hợp xét xử kín theo quy định của luật thì việc tuyên án phải được công khai.
3. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm.
4. Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.
5. Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật.”