Hiệu quả trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật là người có khó khăn về tài chính

Từ năm 1992, ngày 3-12 hằng năm được Liên hợp quốc chính thức lấy làm Ngày Quốc tế Người khuyết tật, với mục đích thúc đẩy sự hiểu biết về vấn đề khuyết tật và huy động hỗ trợ cho nhân phẩm, quyền và phúc lợi của người khuyết tật.

Việt Nam trong những năm qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong công tác chăm lo cho người khuyết tật. Đảng và Nhà nước vẫn luôn quan tâm ưu tiên bố trí nguồn lực và ban hành nhiều chủ trương, chính sách pháp luật trợ giúp xã hội, bảo đảm các quyền của người khuyết tật và thúc đẩy sự tham gia của người khuyết tật vào phát triển kinh tế, xã hội. Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 01/11/2019 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người khuyết tật. Quốc hội đã ban hành Luật Người khuyết tật, phê duyệt Công ước về quyền người khuyết tật. Chính phủ đã ban hành rất nhiều văn bản hướng dẫn về pháp luật người khuyết tật và rất nhiều chương trình dành riêng cho nhóm người khuyết tật. Bên cạnh đó, ngày 05/8/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1190/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2021 - 2030.
Kể từ năm 2019, hàng năm Liên hiệp hội về người khuyết tật Việt Nam đưa ra chủ đề với thông điệp khác nhau nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về quyền và sự hoà nhập của người khuyết tật Việt Nam. Năm 2019: với chủ đề “Tiếp cận cho mọi người”; năm 2020: “Cùng nhau vượt qua đại dịch”; năm 2021: “An toàn - Bình đẳng”; năm 2022: “Hòa nhập và Thích ứng - Định hình Tương lai”; năm 2023: “Đổi mới và công nghệ dành cho mọi người”.
Năm 2023, Ủy ban Quốc gia về người khuyết tật Việt Nam xác định, nước ta có khoảng 7 triệu người khuyết tật, có 87,27% sống ở nông thôn - tỷ lệ người khuyết tật sống ở khu vực này thuộc diện nghèo và cận nghèo cao gấp 3 lần tỷ lệ nghèo trung bình của cả nước. Số người khuyết tật còn trong độ tuổi lao động là 61%, trong đó 40% còn khả năng lao động. Trình độ học vấn của người khuyết tật thấp, hơn 41% số người khuyết tật từ 6 tuổi trở lên không biết chữ và số có trình độ từ tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên chỉ chiếm 19,5%. Về trình độ chuyên môn, hơn 93% người khuyết tật từ 16 tuổi trở lên không có chuyên môn; số có bằng cấp từ chứng chỉ nghề trở lên chỉ chiếm 6,5%.
  1. Trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật có khó khăn về tài chính
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã dành nhiều sự quan tâm, chăm lo cho người khuyết tật nhằm bảo đảm quyền và phát huy vai trò của người khuyết tật trong xã hội với các chính sách, pháp luật khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho người khuyết tật thực hiện bình đẳng về các quyền về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, phát huy khả năng của họ để ổn định đời sống, hòa nhập cộng đồng, tham gia các hoạt động xã hội. Trong đó có hoạt động trợ giúp pháp lý miễn phí cho người khuyết tật thuộc diện được trợ giúp pháp lý. Cụ thể, theo pháp luật trợ giúp pháp lý, người khuyết tật thuộc hộ nghèo, cận nghèo, người khuyết tật là trẻ em, người khuyết tật là người có công với cách mạng, người khuyết tật là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc người khuyết tật thuộc diện được trợ giúp pháp lý khác theo quy định tại Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý thì sẽ được cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí khi có nhu cầu, vướng mắc trong tất cả các lĩnh vực pháp luật (trừ lĩnh vực kinh doanh, thương mại).
Thời gian qua, Cục Trợ giúp pháp lý đã tăng cường các hoạt động truyền thông để người khuyết tật có khó khăn về tài chính được tiếp cận, thụ hưởng dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí của Nhà nước một cách kịp thời, hiệu quả (đã thực hiện phóng sự truyền thông về chính sách trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên Truyền hình Quốc hội Việt Nam, trong đó có vụ việc về người khuyết tật có khó khăn về tài chính được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong vụ án dân sự về tranh chấp đất đai; trên cơ sở Chương trình truyền hình Quốc hội với cử tri, VTV1 - Đài truyền hình Việt Nam phát các phóng sự có nội dung các vụ việc trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật có khó khăn về tài chính). Bên cạnh đó, hoạt động truyền thông cũng được thực hiện bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú như tổ chức hội nghị truyền thông về trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật có khó khó khăn về tài chính tại cơ cở, xây dựng tài liệu, tờ gấp pháp luật, tổ chức các buổi tọa đàm, hội thảo (đã tổ chức tọa đàm “Các giải pháp bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của người khuyết tật”, hội thảo “Đánh giá kết quả trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật giai đoạn 2012 - 2020 và giải pháp nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật giai đoạn 2021 – 2030”).
Hoạt động truyền thông cho người khuyết tật cũng được đẩy mạnh tại các địa phương. Sở Tư pháp các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương đã chỉ đạo các Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thực hiện nhiều biện pháp truyền thông về quyền trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý bằng các hoạt động cung cấp Bảng thông tin về trợ giúp pháp lý, Tờ thông tin về trợ giúp pháp lý, Hộp tin trợ giúp pháp lý, tờ gấp pháp luật, trong đó có nội dung trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật có khó khăn về tài chính cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ sở giam giữ và trại giam, Hội người khuyết tật, các cơ sở bảo trợ xã hội… Bên cạnh đó, nhiều hoạt động phối hợp giữa Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước với Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, từ đó phát hiện, thông tin về nhu cầu trợ giúp pháp lý của người khuyết tật thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.
Có thể nói, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, nhất là trong bối cảnh cả nước bị ảnh hưởng của đại dịch Covid – 19, nhưng thời gian qua, hệ thống trợ giúp pháp lý trong toàn quốc đã có nhiều cố gắng trong thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật có khó khăn về tài chính theo các hình thức: tư vấn, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng. Số lượng người khuyết tật thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý được tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí của Nhà nước ngày càng tăng.
Mỗi năm, các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý cung cấp miễn phí hàng chục nghìn vụ việc trợ giúp pháp lý cụ thể cho người nghèo và các đối tượng khác qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Cụ thể, trong suốt quá trình 26 năm thành lập đến nay, Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp đã chỉ đạo các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý tích cực thực hiện trợ giúp pháp lý cho các diện người được trợ giúp pháp lý, trong đó có người nghèo. Theo số liệu từ Cục Trợ giúp pháp lý cho biết, từ khi triển khai Luật Trợ giúp pháp lý 2017 đến nay, trên toàn quốc đã thực hiện hơn 176,6 nghìn lượt người thuộc diện được trợ giúp pháp lý, trong đó có hơn 11,3 nghìn lượt người khuyết tật có khó khăn về tài chính. Không chỉ tăng về số lượng mà chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý ngày càng được nâng lên. Số lượng vụ việc tham gia tố tụng thành công, hiệu quả ngày càng nhiều lên, bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý. Nhiều vụ việc tham gia tố tụng có quan điểm bào chữa, bảo vệ của người thực hiện trợ giúp pháp lý được các cơ quan tiến hành tố tụng chấp nhận theo hướng lợi cho người khuyết tật được trợ giúp pháp lý như được tăng mức bồi thường thiệt hại hay được tuyên mức án nhẹ hơn hoặc chuyển tội danh hoặc thay đổi khung hình phạt thấp hơn so với mức đề nghị của Viện Kiểm sát...
2. Hiệu quả trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật có khó khăn về tài chính trong một số vụ việc cụ thể
1. Trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật có khó khăn về tài chính là bị cáo trong vụ việc cố ý gây thương tích
a) Trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật có khó khăn về tài chính là bị cáo trong vụ việc cố ý gây thương tích tại tỉnh T.H
 
Khoảng 15 giờ ngày 31/10/2021, V ra bờ ao nhà mình thì thấy một số tàu lá dừa ở dưới ao. V cho rằng bà C (hàng xóm) là người vứt xuống ao nhà mình nên V xuống ao vớt các tàu lá dừa vứt sang vườn nhà bà C. Cùng lúc, bà C đi ra vườn thì thấy nên đã xảy ra mâu thuẫn và dẫn đến xô xát. Bà C được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa điều trị 09 ngày. Cơ quan CSĐT Công an huyện giám định tỷ lệ thương tích trên cơ thể bà C và có kết luận giám định thương tích là 13% tổn hại sức khỏe.
Cơ quan CSĐT Công an huyện khởi tố bị can V về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 134 BLHS 2015. Sau khi khởi tố bị can, Cơ quan CSĐT Công an huyện đã xác minh là ông V là người khuyết tật hưởng trợ cấp hàng tháng và có giải thích về quyền được trợ giúp pháp lý. Ông V có yêu cầu trợ giúp pháp lý và Cơ quan CSĐT Công an huyện đã thông báo đến Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh để trợ giúp pháp lý cho bị can V.
Trong quá trình tham gia tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Trợ giúp viên pháp lý đã hướng dẫn bị can một số tình tiết giảm nhẹ như bồi thường thiệt hại cho bị hại, thu thập giấy chứng nhận tham gia kháng chiến nhưng do hoàn cảnh bị cáo nên bị cáo không bồi thường thiệt hại cho bị hại và không thu thập được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo được xem xét về hoàn cảnh, nhân thân và được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS và khoản 2 Điều 51 BLHS và HĐXX tuyên phạt bị cáo 30 tháng tù giam.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã kháng cáo bản án sơ thẩm xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo. Kết quả thực hiện của Trợ giúp viên tại giai đoạn phúc thẩm: đã cùng bị cáo nộp bồi thường cho bị hại tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện và đã thu thập giấy xác nhận khuyết tật nặng cho bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, Tòa án nhân dân tỉnh đã áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b Khoản 1 Điều 51 BLHS: Bị cáo đã bồi thường khắc phục thiệt hại cho bị hại và điểm p khoản 1 Điều 51 BLHS 2015: Người phạm tội là người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng. Hội đồng xét xử phúc thẩm đã quyết định giữ nguyên mức hình phạt 30 tháng tù của bị cáo nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng.
b) Trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật có khó khăn về tài chính là bị cáo trong vụ việc cố ý gây thương tích tại tỉnh Q.N
Ngày 07/2/2020, V.H.L đến nhà bà N.T.M ngồi uống bia và hát karaoke. Lúc này nhà bà N.T.M có ông N.K.T tới chơi. Do mâu thuẫn từ trước với ông N.K.T nên V.H.L vào trong phòng bếp lấy một con dao rồi đi vào phòng ngủ nhà dưới. Lúc này N.K.T đang nằm ở trong phòng, V.H.L cầm dao tay trái chém một cái từ trên xuống dưới nhằm vào người ông N.K.T. Ông N.K.T đưa tay lên đỡ thì bị V.H.L chém trúng vào tay phải gây thương tích, tỷ lệ thương tích là 10%. Ông N.K.T có đơn yêu cầu khởi tố hình sự. V.H.L đã có một tiền sự (bị TAND huyện T.P áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện).
VKSND huyện T.P đã truy tố V.H.L theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 BLHS về tội “Cố ý gây thương tích”. Vụ việc được Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Q.N thực hiện TGPL cho V.H.L. Nhận thấy hành vi phạm tội của V.H.L thuộc một trong các trường hợp nếu người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án được đình chỉ. trợ giúp viên pháp lý đã giải thích cho V.H.L hiểu, ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, hướng dẫn V.H.L chủ động hòa giải, bồi thường thiệt hại. Sau khi được hòa giải và nhận bồi thường, ông N.K.T tự nguyện tút lại yêu cầu khởi tố.
Trong vụ án này, trợ giúp viên pháp lý đã khai thác tình tiết giảm nhẹ cho bị can: trong quá trình điều tra bị can đã bồi thường thiệt hại; bị an thành khẩn khai báo về hành vi gây thương tích cho ông N.K.T và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; bị can phạm tội lần đâu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị can là người khuyết tật nặng. Ngoài ra, gia đình ông, bà nội, ngoại và cha ruột của bị can đều là người có công với cách mạng. Vì vậy, TAND huyện đã ra Quyết định đình chỉ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý đối với bị cáo V.H.L do ông N.K.T đã tự nguyện rút đơn yêu cầu khởi tố trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm, đồng thời hủy bỏ Lệnh cấm đi khởi nơi cư trú của TAND huyện TP đối với bị cáo.
2. Trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật có khó khăn về tài chính là bị hại trong vụ việc cố ý gây thương tích tại tỉnh H.T
Vào khoảng 19 giờ ngày 02/01/2021, anh V đến nhà anh T uống rượu và đã xảy ra xô xát. Kết luận giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của anh V là 43%.
Trong quá trình điều tra, Trợ giúp viên pháp lý đã hướng dẫn, thu thập các chứng cứ, làm việc với gia đình bị hại, bị can về bồi thường thiệt hại; gia đình bị can và anh V thỏa thuận mức bồi thường thiệt hại là 40.000.000 đồng. Tại phiên tòa, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, Trợ giúp viên pháp lý đã đề nghị gia đình bị cáo bồi thường thêm cho gia đình bị hại 30.000.000 đồng. Sau khi xem xét, HĐXX đã tuyên buộc bị cáo T phải bồi thường thêm cho anh V 30.000.000 đồng.
3. Trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật có khó khăn về tài chính là bị cáo trong vụ việc giết người
Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 19/5/2021, ông T ngồi trên xe lăn, được người thân đẩy ra con đường trước cổng nhà để hóng mát. Chỉ ít phút sau ông L (hàng xóm) đi ngang qua, thấy ông T đang ngồi một mình nên tiến lại gần rồi bất ngờ dùng dao chém chết người hàng xóm. Sau khi gây án, ông L hoảng loạn, bỏ về nhà lẩn trốn. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh khởi tố L về tội “Giết người” theo quy định tại Điều 123 BLHS.
Trong quá trình tham gia bào chữa cho bị can, Trợ giúp viên pháp lý đã tìm hiểu thời điểm trước, trong, sau khi thực hiện hành vi L đã có tiền sử bệnh tâm thần. Sau khi có kết quả giám định y khoa xác định L bị bệnh tâm thần phân liệt mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Trợ giúp viên đề nghị đình chỉ vụ án và áp dụng chữa bệnh đối với bị can L.
 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh đã ra Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với L. Ngày 05/10/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh ra Quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ điều tra bị can.
4. Trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật có khó khăn về tài chính là bị cáo trong vụ án “trộm cắp tài sản”
Bị cáo N đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản, tổng giá trị theo định giá tài sản là 1.200.000 đồng. Hành vi trộm cắp tài sản của N đã bị Viện Kiểm sát nhân dân huyện truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt áp dụng các dụng các điểm h, q, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 2 Điều 52; Điều 54  Bộ luật Hình sự để nghị xử phạt bị cáo N từ 03 đến 06 tháng tù và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện giữ nguyên quyết định truy tố như trong cáo trạng.
Trợ giúp viên pháp lý đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; các điểm h, q, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 36 BLHS để cho bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ với mức từ 12 đến 15 tháng.
Kết quả, bản án của Hội đồng xét xử: Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Áp dụng các điểm h, q, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 2 Điều 52; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo N 18 tháng cải tạo không giam giữ.
5. Trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật có khó khăn về tài chính là bị cáo trong vụ việc “đánh bạc”
Hồi 13 giờ ngày 28/7/2020, tại nhà ở của C, tổ công tác CA huyện phát hiện, bắt quả tang C cùng với T và 3 người nữa đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền, dưới hình thức xóc đĩa. Thu tại chiếu bạc 14.600.000đ là tiền của tất cả 05 người dùng để đánh bạc. Cơ quan cảnh sát điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can T với tội danh “Đánh bạc” theo  khoản1, Điều 321 BLHS 2015.
Viện kiểm sát nhân dân đề nghị xử phạt bị cáo từ 9 tháng - 12 tháng tù giam. Người thực hiện TGPL đưa ra các quan điểm bào chữa cho bị cáo (người phạm tội thành khẩn khai báo, bị cáo là người khuyết tật, bố của bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến...), đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt, kết quả Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo 7 tháng tù giam.
6. Trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật có khó khăn về tài chính là nguyên đơn trong vụ việc tranh chấp dân sự về quyền sử dụng đất
Chị L.T.Đ và anh C.V.N là vợ chồng, kết hôn năm 2000. Năm 2003 chị gái chị Đ cho 2 vợ chồng thửa đất có diện tích 270m2 (cho bằng miệng, không có giấy tờ), sau đó 2 vợ chồng đã xây dựng ngôi nhà cấp 4 trên thửa đất. Quá trình sử dụng ổn định, lâu dài, đến 2022 khi thấy ông Đ.C.Q lấy cọc cắm trên đất nên hai bên tranh cãi. Ông Q cho rằng 270m2 đất này là của ông vì ông đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên vợ chồng ông Q (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho diện tích đất 576,9m2 trong đó có 270m2 đất nêu trên. Mục đích sử dụng: Đất rừng sản xuất). Vợ chồng chị Đ làm đơn yêu cầu UBND xã giải quyết nhưng kết quả không thống nhất hòa giải được. Tháng 5/2022 vợ chồng chị Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh buộc ông Q trả lại toàn bộ diện tích đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên vợ chồng ông Q.
Chị Đ yêu cầu trợ giúp pháp lý tại Trung tâm TGPL tỉnh Q.B. Sau khi được phân công thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý cho chị Đ, Trợ giúp viên pháp lý đã gặp người được TGPL xác định toàn bộ nội dung vụ án, xem xét thực địa, thu thập tài liệu chứng cứ có liên quan; xem xét hồ sơ do người được TGPL cung cấp, xác định yêu cầu khởi kiện của chị Đ là có căn cứ, cơ sở. Trợ giúp viên pháp lý cũng đã liên hệ với ông Q để trao đổi, thuyết phục nên hòa giải với chị Đ vì nguồn gốc sử dụng của chị Đ rõ ràng, nhiều người làm chứng; ngôi nhà do vợ chồng chị Đ xây dựng từ 2003 (trước cả thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất); có 02 hộ liền kề xác nhận trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Q có chữ ký giả của họ và gia đình chị Đ đang làm thủ tục đề nghị giám định chữ ký trong Phiếu lấy ý kiến khu dân cư trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông Q.
Trợ giúp viên pháp lý còn đưa ra lập luận ông Q là công chức xã không được cấp đất rừng sản xuất theo quy định tại Nghị định số 43/2014/NĐ-CP như trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông được cấp. Hơn nữa gia đình ông không có tài liệu, hồ sơ giấy tờ trước năm 2018 thể hiện phần đất đang tranh chấp thuộc quyên sử dụng đất của mình.
Quan điểm của Trợ giúp viên pháp lý trong vụ việc này là đề nghị các bên hòa giải, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên vợ chồng ông Q và thỏa thuận về việc chia thửa đất thành 02 thửa: ông Q 289,2m2 và chị Đ 262,9m2 theo đúng sơ đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo biên bản thẩm định, định giá của Hội đồng định giá Tòa án nhân dân tỉnh.
Kết quả, Tòa án nhân dân tỉnh đã ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (theo các nội dung như biên bản hòa giải thành). Như vậy, vụ việc này đã thành công trong việc bảo vệ được diện tích đất của người được trợ giúp pháp lý trên thực tế (đang ở) và về mặt pháp lý (trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).
  1. Trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật có khó khăn về tài chính là bị đơn trong vụ tranh chấp phân chi tài sản chung và phân chia di sản thừa kế
Bà N.T.L và ông Đ.L (đã chết năm 1989) sinh ra được 07 người con (đã chết 02) còn lại 05 người. Năm 1989 mất, trước đây khi còn sống ý nguyện của ông là để cho anhH vườn ngoài để thờ cúng bên ngoại . Anh N cái vườn hiện nay đang tranh chấp để thờ cúng bên nội; sau này chính bà L đã thực hiện, làm văn bản lên UBND thị trấn để chuyển cho anh H, anh N theo đúng nguyện vọng của ông L, có sự đồng ý bằng văn bản của UBND thị trấn. Ngày 08/10/2019 bà L đã ủy quyền cho chị Ng và ủy quyền bổ sung ngày 09/01/2020, yêu cầu chia tài sản chung của chồng bà với bà và kiện chia di sản thừa kế diện tích 2.451 m2. Theo hồ sơ thể hiện bà L đã tự nguyện có văn bản chia cho anh H, anh N và chị L. Anh N đã kê khai sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật, sử dụng ổn định tử năm 1989 đến nay. Bà L đã không kê khai, đăng ký, sử dụng đến nay  đã 33 năm.
  Trợ giúp viên pháp lý tỉnh Q.N đưa ra quan điểm bảo vệ cho người được trợ giúp pháp lý là anh N:
+ Theo hồ sơ bà L đã tự nguyện có văn bản chia cho hai con là H, N đứng tên sử dụng đất, được UBND thị trấn ra Thông báo, hai anh H và N có đăng ký quyền sử dụng đất, nên sau khi ông L chết, đã được bà L chia cho các con, do đó không đủ điều kiện để chia tài sản chung theo quy định tại Nghị quyết 02/2004 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao.
+ Anh N đã kê khai sử dụng đất theo đúng qui định của pháp luật. Chính vì vậy ông N đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Điều 100 Luật Đất đai 2013, nên bà L không thể kiện đòi chia diện tích đất anh N đã kê khai, đăng ký, nộp thuế được. Trong khi đó bà L không đăng ký, kê khai, sử dụng 33 năm qua.
+ Lời khai các nhân chứng và việc anh N xuất trình các biên lai thu thuế các năm càng khẳng định diện tích đất hiện nay hộ  ông Hiền sử dụng là hợp pháp, được nhà nước công nhận.
Từ những chứng cứ, tài liệu dẫn chiếu các nội dung trong hồ sơ và những quy định của pháp luật, trợ giúp viên pháp lý đã đề nghị HĐXX bác toàn bộ đơn khởi kiện của bà L về việc đòi chia tài sản chung và chia thừa kế. Kết quả, quan điểm trên đã được HHĐXX chấp nhận, tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L, bác toàn bộ đơn khởi kiện của bà L về việc đòi chia tài sản chung và chia thừa kế.
Có thể thấy rằng, thông qua việc thực hiện các vụ việc cụ thể, thời gian qua hoạt động trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý nói chung, người khuyết tật có khó khăn về tài chính nói riêng đã đóng góp tích cực vào an sinh xã hội, góp phần bảo vệ quyền của người khuyết tật, quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật. Với sự vào cuộc của người thực hiện trợ giúp pháp lý đã giúp người khuyết tật thuộc diện được TGPL được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời góp phần nâng cao hiểu biết và ý thức pháp luật, trên cơ sở đó để họ ứng xử phù hợp với pháp luật, tôn trọng và chấp hành pháp luật, góp phần bảo đảm công lý, thực hiện công bằng xã hội, giữ gìn trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
Để tiếp tục nâng cao hiệu quả, chất lượng trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật có khó khăn về tài chính và người khuyết tật thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý khác, trong thời gian tới cần chú ý thực hiện một số nhiệm vụ sau:
- Triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ về trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật được Thủ tướng Chính phủ giao cho Bộ Tư pháp trong Kế hoạch thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật và trong Chương trình trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2021-2030, cũng như Kế hoạch hàng năm về trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý của Bộ Tư pháp và của Ủy ban nhân dân các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương. Phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và xã hội, các Bộ ngành có liên quan đánh giá, tổng kết việc thi hành Luật Người khuyết tật, nghiên cứu, sửa đổi các quy định tại Luật Người khuyết tật, phù hợp với quy định của Luật Trợ giúp pháp lý, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật.
- Tăng cường hoạt động kết nối giữa Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước với Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có người khuyết tật, các Hội người khuyết tật, các cơ sở bảo trợ xã hội, trường học, cơ sở kinh doanh, các tổ chức khác của người khuyết tật và các cơ quan báo chí, truyền thông từ đó phát hiện, thông tin về nhu cầu trợ giúp pháp lý của người khuyết tật thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.
- Nâng cao năng lực cho đội ngũ những người thực hiện trợ giúp pháp lý về kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ, nhất là kỹ năng nắm bắt tâm lý, giao tiếp, trao đổi thông với người khuyết tật ở các dạng tật khác nhau để bảo đảm cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý kịp thời, hiệu quả.
- Đẩy mạnh thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý, nhất là những vụ việc tham gia tố tụng; chủ động, kịp thời trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật thuộc đối tượng trợ giúp pháp lý đối với các vụ việc được báo chí, phương tiện truyền thông phản ánh.../.
Hân Nhi